joomla contact module

Hội thảo đã mang đến một cái nhìn tổng quát về các vấn đề pháp lý đặt ra trước những tác động nhiều mặt của các vấn đề về môi trường, đồng thời đề ra các giải pháp cho Việt Nam từ kinh nghiệm trong hoạt động quản lý của nhiều quốc gia trên thế giới.

WEBMOI_5.jpg

 

Ngày 22/9/2017, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thảo quốc tế với chủ đề “Bảo vệ môi trường với ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế - những vấn đề pháp lý đặt ra”. Hội thảo có sự tham gia của các giảng viên, sinh viên, học viên cao học và các nghiên cứu sinh của Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh; các học giả và những người làm công tác thực tiễn tại các trường đại học, các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước như: đại diện các đoàn Đại biểu Quốc hội, Sở ban ngành có liên quan, Hội luật gia, Đoàn luật sư, Công ty luật…

Trong bài phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS. Trần Hoàng Hải - Phó hiệu trưởng Nhà trường nêu lý do và mục đích của Hội thảo. Phó hiệu trưởng khẳng định ô nhiễm và suy thoái môi trường đe dọa an ninh quốc gia và sự sống còn của cả xã hội loài người. Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam đang đứng trước nhiều nguy cơ về môi trường như: biến đổi khí hậu, nước biển dâng… và đây là một thách thức lớn, đe dọa nghiêm trọng đến mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Trước tình trạng đó, với vai trò là cơ sở đào tạo luật trọng điểm, Nhà trường tổ chức Hội thảo quốc tế nhằm đóng góp ý kiến để khắc phục những hạn chế về chính sách và các quy định pháp luật cũng như xây dựng cơ chế đảm bảo thực hiện hệ thống pháp luật về môi trường trên cơ sở kinh nghiệm các nước; tăng cường năng lực của cơ quan chuyên trách bảo vệ môi trường; đặt ra vấn đề trách nhiệm xã hội đối với các doanh nghiệp.

Hội thảo được chia ra làm hai phiên với 10 bài tham luận của các chuyên gia trong nước và quốc tế trong lĩnh vực Luật môi trường.

Ở phiên thứ nhất vào buổi sáng, Ban chủ tọa gồm PGS. TS. Trần Hoàng Hải; TS. Nguyễn Thành Phương - Phó Cục trưởng Cục Môi trường miền Nam, Tổng cục Môi trường; TS. Michael Parsons – Cố vấn Chính sách của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ở phiên này, vấn đề “Tác động của môi trường đến sự ổn định chính trị xã hội” được các học giả đánh giá bằng những nghiên cứu sâu sắc dưới nhiều khía cạnh khoa học – xã hội khác nhau.

Mở đầu là tham luận của TS. Phạm Văn Võ – Phó trưởng khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh: “Nhận diện nguy cơ đe dọa an ninh môi trường ở Việt Nam và những vấn đề pháp lý đặt ra”. Bằng những tình huống thực tế, Tiến sĩ đã chỉ ra sự thiếu kiên quyết của các cơ quan chức năng ở Việt Nam trong thời gian qua trong việc xử lý các vi phạm về môi trường đã gây ra nhiều bức xúc cho người dân và buộc họ phải hành động để bảo vệ “Quyền được sống trong môi trường trong lành” cho chính bản thân họ. Bên cạnh đó, một bất cập khác cũng cần được quan tâm xem xét chính là việc phân bổ quyền khai thác, sử dụng tài nguyên đất và nguồn nước một cách không hợp lý, bất công bằng đã tác động xấu đến an ninh môi trường. Các tranh chấp về môi trường hiện nay vẫn còn thiếu cơ chế giải quyết hiệu quả, điển hình là những vụ kiện gây nhiều tranh cãi trong dư luận thời gian gần đây.

Bài tham luận “Áp dụng các bài học kinh nghiệm quốc tế vào việc hiện đại hóa hệ thống bảo vệ môi trường ở Việt Nam” của TS. Michael Parsons đã mang đến một cái nhìn bao quát về kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Nga, Ấn Độ, Malaysia cùng các nước trong Liên minh châu Âu. Các quốc gia nêu trên đều đã lập ra “Danh sách đỏ” những ngành công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm nhiều nhất, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn môi trường mới hiệu quả hơn như sử dụng kĩ thuật tiên tiến nhất (BAT) cho các ngành công nghiệp trong dach sách này. Tiến sĩ cho rằng việc Đánh giá tác động Môi trường (EIA) mà Việt Nam đang áp dụng hiện nay không mang lại hiệu quả cao trong việc giảm thiểu các tác động lên môi trường, thay vào đó việc thiết lập cơ chế cấp phép môi trường hợp nhất cho các ngành thuộc Danh sách đỏ của Việt Nam nên được đưa vào thực tiễn. Cuối cùng, TS. Michael Parsons còn đặt ra vấn đề xử lý trách nhiệm môi trường – câu hỏi đang được quan tâm hàng đầu từ sau vụ việc nhà máy Formosa vừa qua.

Trong cùng phiên thảo luận, GS. Gary Chan Kok Yew đến từ Đại học Quản trị Singapore (SMU) đã kết hợp chế định của pháp luật dân sự trong nghiên cứu vấn đề môi trường. Bài tham luận với chủ đề “Kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Singapore: Sự giao thoa giữa bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và các luật, quy định và tiêu chuẩn cộng đồng” đã nêu bật các biện pháp về mặt pháp luật mà Singapore đã áp dụng nhằm kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm không khí và xe cơ giới; đồng thời tiến hành xem xét các trường hợp khác nhau về thiệt hại ngoài hợp đồng theo hệ thống thông luật mà Singapore tiếp nhận từ Anh quốc. Bên cạnh đó, Giáo sư cũng đề cập việc phổ biến giáo dục và các nỗ lực cộng đồng như một giải pháp lâu dài nhằm nâng cao ý thức về môi trường trong cộng đồng.

PGS. Kanami Ishibashi – Khoa Quốc tế, Đại học Nghiên cứu quốc tế Tokyo (TUFS), với những dẫn chứng sắc bén từ 2 vụ việc môi trường đã từng xảy ra ở Nhật Bản, đã mang lại kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc cân bằng sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Bài tham luận “An ninh môi trường trong khu vực: Những thông điệp có giá trị cho các quốc gia châu Á dựa trên kinh nghiệm của Nhật Bản về biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, chất thải hóa học, chất thải nguy hại và ô nhiễm biển” đã chỉ ra những sai lầm của chính phủ Nhật Bản trong việc đánh giá tình hình cũng như bồi thường thiệt hại cho nạn nhân mắc bệnh Minamata (căn bệnh mắc phải bởi những người ăn cá và sò ốc bắt trong vịnh Minamata gây ra các triệu chứng rối loạn hệ thần kinh do nhiễm độc thủy ngân). Ngoài ra, cách xử lý của Chính phủ Nhật Bản trong vụ rò rỉ ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima cũng là một bài học kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nước ta đang cân nhắc kế hoạch phát triển nhà máy điện hạt nhân đầu tiên.

Bài tham luận “Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin môi trường ở Việt Nam” qua phần trình bày của TS. Thái Thị Tuyết Dung – Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh chỉ ra vai trò quan trọng của quyền tiếp cận thông tin về môi trường ở Việt Nam đối với sự thúc đẩy các hoạt động đầu tư kinh doanh, cụ thể là đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các chủ thể kinh doanh. Ở Việt Nam hiện nay, quyền tiếp cận thông tin đã được luật hóa trong một số văn bản pháp luật cụ thể, tuy nhiên thực tiễn thực hiện còn nhiều bất cập. Vì thế, Tiến sĩ đã đề ra các giải pháp cả trong quá trình lập pháp lẫn công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về quyền tiếp cận thông tin môi trường.

Phiên thứ hai buổi chiều do PGS. TS. Trần Hoàng Hải, TS. Phạm Văn Võ, GS. Gary Chan Kok Yew chủ trì. Ở phiên này, “Tác động của môi trường đến phát triển kinh tế” là vấn đề được các học giả tập trung thảo luận.

TS. Arie Afriansyah – Đại học Indonesia mở đầu phiên thảo luận buổi chiều với báo cáo nghiên cứu về “Trách nhiệm của các công ty đối với thiệt hại về môi trường theo các phán quyết của Tòa án Indonesia”. Bài tham luận đã đặt ra vấn đề khởi kiện tập thể - một chế định còn khá mới mẻ đối với pháp luật Việt Nam, đồng thời tóm tắt các nỗ lực của nước này nhằm buộc các công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại môi trường.

Một đề tài gần gũi hơn với vấn đề môi trường ở Việt Nam đã được NCS. Võ Trung Tín đi vào phân tích qua bài tham luận “Tác động của việc xây dựng thủy điện trên sông Mê Kông đến an ninh môi trường của Việt Nam – một số vấn đề pháp lý đặt ra”. Bằng cách đưa ra các dẫn chứng về những hệ lụy của việc xây dựng các đập thủy điện lớn nhỏ ở các nước trong khu vực sông Mê Kông, đặc biệt là các quốc gia ở vùng hạ lưu như Việt Nam, song song với việc đúc kết các bài học kinh nghiệm từ đập thủy điện Xayaburi ở Lào, bài tham luận đã nhìn nhận những vấn đề pháp lý đặt ra cho các quốc gia thành viên Ủy hội sông Mê Kông (MRC). Một số giải pháp đã được kiến nghị nhằm gỡ bỏ những khúc mắc đang tồn đọng, trong đó có việc kêu gọi Trung Quốc và Myanmar là 2 quốc gia ở vùng thượng nguồn gia nhập MRC và nhấn mạnh Việt Nam cần chủ động ứng phó với thực trạng khai thác thủy điện trên sông.

Th.S Chacrit Sitdhiwej – Khoa Luật, Đại học Thammasat, Bangkok, Thái Lan đã mang đến hội thảo những thông tin thiết thực về việc thiết lập cơ chế báo cáo bắt buộc về khí thải nhà kính ở Thái Lan. Bài nghiên cứu tập trung phân tích hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới về thiết kế các cơ chế báo cáo khí nhà kính bắt buộc, theo đó nêu rõ 4 bước của cơ chế bao gồm: xác định mục tiêu (tùy thuộc vào hoàn cảnh nội tại của mỗi quốc gia); Xác định cơ cấu và các yêu cầu (xác định phạm vi áp dụng, cung cấp phương pháp định lượng, thiết lập quy trình kiểm soát); tiến hành đánh giá (ai là người tiến hành, mức độ thường xuyên); tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực hiện (thiết lập hệ thống pháp lý, công tác quản lý). Diễn giả còn đặt ra vấn đề chồng chéo về thẩm quyền xử lý số liệu cũng như tính rườm rà của các thủ tục chính là một thách thức lớn cần giải quyết để đưa cơ chế trên vào thực tiễn.

Đến với hội thảo, PGS. TS. Vũ Thị Duyên Thủy – Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội đã đề cập đến vấn đề pháp lý liên quan đến “Kiểm soát nhập khẩu loài ngoại lai ở Việt Nam”. Song song với việc chỉ ra các tác hại nhiều mặt mà các loài ngoại lai có thể gây ra đối với môi trường sinh thái, nền kinh tế quốc gia cũng như tính mạng, sức khỏe của con người, PGS đã hệ thống lại 5 vấn đề pháp lý mà Việt Nam cần giải quyết để kiểm soát hiệu quả quá trình nhập khẩu loài ngoại lai, từ việc lập danh mục các loài ngoại lai xâm hại, kiểm soát sự lây lan của loài ngoại lai sau khi nhập khẩu đến việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về nhập khẩu loài ngoại lai. Với phần tham gia thảo luận của các học giả tại hội thảo, các vấn đề về phát huy lợi ích kinh tế mà loại ngoại lai mang lại cũng như đặt các quy định về kiểm soát nhập khẩu trong tương quan với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng được đem ra xem xét.

PGS. TS. Trần Việt Dũng – Trưởng khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đã đánh giá vấn đề bảo vệ môi trường trên khía cạnh “Phát triển cơ chế hòa giải đối với các tranh chấp môi trường tại Việt Nam”. Nghiên cứu đã chỉ ra cơ chế hòa giải hiện nay không mang lại hiệu quả mong đợi mặc dù cách giải quyết này đơn giản, không ảnh hưởng đến uy tín nhà đầu tư. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này là do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực sự chủ động trong thụ lý hồ sơ và hoạt động độc lập trong hoạt động xét xử. Ở vấn đề này, PGS cho rằng Việt Nam cần học hỏi và phát triển mô hình hòa giải tranh chấp môi trường mà Nhật Bản đã áp dụng, trong đó có đề cập đến việc thành lập cơ quan chuyên trách về xử lý, giải quyết tranh chấp môi trường theo từng vụ việc vì nó đảm bảo tính linh động và tiết kiệm chi phí quản lý bộ máy nhân sự cho nhà nước.

Sau mỗi bài tham luận, các cử tọa tham gia bàn bạc, thảo luận sôi nổi, đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và sâu sắc. 

Kết thúc buổi Hội thảo, đại diện cho đơn vị tổ chức Hội thảo, PGS. TS. Trần Hoàng Hải khẳng định sự thành công của hội thảo trong việc phân tích làm rõ 2 vấn đề trọng tâm đã đề ra, đồng thời nhấn mạnh giá trị to lớn mà hội thảo mang lại bởi Việt Nam đang đứng trước hàng loạt uy cơ an ninh môi trường trong xu thế hội nhập toàn cầu và phát triển kinh tế hiện nay. Các nghiên cứu khoa học sâu sắc và thiết thực của các học giả sẽ được nhà trường tổng hợp và gửi đến các cơ quan thủ quan nhằm giải quyết các vấn đề môi trường một cách toàn diện nhất từ góc độ pháp lý.

Bài: Bảo Ngân

Biên tập: Bích Hà
Ảnh: Thanh Toàn
Ban Truyền thông ULAW

ban biên tập website
quản trị mạng
(028) 39400989
- 141 / 142