DANH MỤC
THÔNG TIN KHÁC
Nhà sách Online
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm trong Bộ luật dân sự Việt Nam

Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm trong Bộ luật dân sự Việt Nam (ĐỖ VĂN ĐẠI)

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 3/2004


VẤN ĐỀ HỦY BỎ ,ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO BỊ VI PHẠM
TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

ĐỖ VĂN ĐẠI
TS. GV Khoa luật Trường ĐH Aix-Marseille III (TT Aix-en-Provence) - CH Pháp

Hợp đồng là thỏa thuận giữa các bên làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ nhằm đạt được lợi ích hợp pháp mà họ mong muốn khi giao kết1. Thực tế cho thấy lợi ích hợp pháp mong đợi thường không đạt được theo ý muốn vì hợp đồng không được thực hiện như dự tính. Trước hoàn cảnh này, bên không được thực hiện có thể yêu cầu bên kia bồi thường thiệt hại, hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng. Trong bài viết này, xin chỉ đề cập đến vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng trong phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự Việt Nam2. Khi xác lập hợp đồng, các bên thường đưa ra một thời hạn để thực hiện. Ví dụ, theo hợp đồng ký kết ngày 01 tháng 06, A phải cung cấp cho B một lượng hàng C vào ngày 30 tháng 06. Chúng ta lần lượt nghiên cứu việc hủy bỏ, đình chỉ sau (1) và trước khi (2) hết thời hạn mà hợp đồng phải thực hiện.

1. Hủy bỏ đình chỉ hợp đồng sau khi hết thời hạn thực hiện

Theo Điều 419 và 420 Bộ luật dân sự Việt Nam, “một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”3 ; “một bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện đình chỉ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”4. Vậy, theo Bộ luật dân sự, khi hợp đồng không được thực hiện, bên không được thực hiện có quyền hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng nếu điều đó đã được thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trong thực tế rất nhiều hợp đồng không có điều khoản cho phép một bên hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng khi bên kia có vi phạm. Ở đây, xin chỉ đề cập đến các trường hợp này.

Khi hợp đồng không được thực hiện, Điều 419 và 420 Bộ luật dân sự, phần chung về hợp đồng, cho phép một bên hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng, song với điều kiện là việc đó “pháp luật có quy định”. Trong phần chung về hợp đồng, chúng ta không thấy một điều khoản nào quy định việc hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng khi không được thực hiện. Chỉ trong các điều khoản cụ thể về một số hợp đồng thông dụng (tức là phần chuyên biệt về một số hợp đồng cụ thể) chúng ta mới thấy các quy định này. Ví dụ, theo Điều 553, khoản 3 về hợp đồng gia công, “trong trường hợp sản phẩm không đảm bảo chất lượng mà bên đặt gia công đồng ý nhận sản phẩm, nhưng yêu cầu sửa chữa mà bên nhận gia công không thể sửa chữa được trong thời hạn đã thỏa thuận, thì bên đặt gia công có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”. Tương tự, theo Điều 722 về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, “khi bên thuê chậm trả tiền thuê quyền sử dụng đất theo thỏa thuận, thì bên cho thuê có thể gia hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên thuê không thực hiện nghĩa vụ, thì bên cho thuê có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu bên thuê hoàn trả đất”.

Cách điều chỉnh trên của Bộ luật dân sự về vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do không được thực hiện biểu lộ một số bất cập.

Thứ nhất, trong phần chuyên biệt về một số hợp đồng thông dụng, Bộ luật dân sự có quy định những trường hợp được phép hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do không được thực hiện. Song, những quy phạm này không đầy đủ, một số vi phạm có thể dẫn đến hủy hay đình chỉ hợp đồng không được quy định. Và, ở đây, chúng ta không thể cho phép hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng vì, đối với những vi phạm hợp đồng này, việc hủy bỏ, đình chỉ không có quy định của pháp luật.

Thứ hai, Bộ luật chỉ có những quy định cho phép hủy bỏ, đình chỉ đối với những hợp đồng dân sự thông dụng. Vậy, đối với hợp đồng dân sự không thông dụng, chúng ta cũng không có quy phạm cụ thể cho phép hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng khi bị vi phạm, và do đó chúng ta không thể hủy, đình chỉ những hợp đồng này vì, theo Điều 419 và 420 Bộ luật dân sự nêu trên, một bên chỉ được hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm khi việc đó “pháp luật có quy định”.

Chúng ta thấy cách điều chỉnh như trên của Bộ luật dân sự tạo ra “lỗ hổng hay điểm trống pháp lý”: đối với một số trường hợp vi phạm hợp đồng, chúng ta không có quy định cho phép bên bị vi phạm quyền hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng. Xin trích một ví dụ để thấy được sự bất cập này của Bộ luật dân sự5.

Ngày 08 tháng12 năm X, bà H. làm giấy sang nhượng nhà và đất số KP Nội Ô thị trấn GD tỉnh TN cho ông C. với giá là Y. Cùng ngày, bà H. làm giấy ủy quyền giao nhà và đất trên cho ông C. Căn cứ vào giấy ủy quyền và theo lời khai của bà U. và bà H. thì bà H. bán nhà và đất nói trên với điều kiện là bà H. ở lại nhà cho đến chết và ông C. phải chăm sóc bà H. Song, ông C. không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết vì, 2 năm sau, vợ chồng ông C. đã tự bán lại căn nhà trên cho ông S. và ông S. bán lại cho vợ chồng ông N. Trước sự vi phạm trên, bà H. yêu cầu được hủy hợp đồng. Hợp đồng có tranh chấp trên là hợp đồng mua bán nhà và đất với điều kiện là người bán ở lại nhà đến chết và người mua phải nuôi người bán. Người bán muốn hủy hợp đồng vì người mua đã không đảm bảo cho người bán ở lại nhà đến chết. Việc vi phạm trên là nghiêm trọng và chúng ta nên cho phép người bán hủy hợp đồng. Nhưng, trên cơ sở Điều khoản nào của Bộ luật dân sự chúng ta cho phép hủy hợp đồng ? Phần điều chỉnh hợp đồng thông dụng không có quy phạm cụ thể nào quy định rằng, đối với hợp đồng mua bán nhà và đất trên, bên bán có quyền hủy hợp đồng bán nhà và đất khi người mua không thực hiện nghĩa vụ cho người bán ở lại nhà đến chết.

Ví dụ trên cho thấy cách điều chỉnh của Bộ luật dân sự về việc hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do không được thực hiện có nhiều bất cập. Nhân dịp sửa đổi, bổ sung Bộ luật, thiết nghĩ chúng ta nên sửa đổi, bổ sung vấn đề này.

Trong pháp luật nhiều nước trên thế giới, bên cạnh phần điều chỉnh hợp đồng thông dụng (phần riêng về hợp đồng) cho phép hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng, phần chung về hợp đồng còn chứa đựng những Điều khoản quy định một cách bao quát những trường hợp được hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng khi không được thực hiện. Cách điều chỉnh này sẽ cho phép hủy bỏ, chấm dứt hợp đồng khi các quy phạm điều chỉnh hợp đồng thông dụng không đầy đủ hoặc khi hợp đồng bị vi phạm không phải là hợp đồng thông dụng mà phần riêng có đề cập.

Ví dụ, theo Điều 1644 Bộ luật dân sự Pháp (phần về hợp đồng mua bán), khi tài sản bán có khuyết tật nghiêm trọng thì bên mua có quyền trả lại vật và đòi lại tiền. Vậy, theo phần chuyên biệt về hợp đồng thông dụng của Bộ luật dân sự Pháp, hợp đồng mua bán có thể bị hủy khi tài sản bán có lỗi nghiêm trọng. Tương tự, theo Điều 1722 Bộ luật dân sự Pháp (phần về hợp đồng thuê tài sản), hợp đồng cho thuê bị chấm dứt khi tài sản cho thuê bị mất, bị hỏng do sự cố bất khả kháng hay do lỗi của một bên6. Bên cạnh các quy phạm cho phép hủy hay chấm dứt hợp đồng trong phần hợp đồng thông dụng trên, chúng ta còn thấy phần chung của luật hợp đồng Pháp cho phép (Điều 1184 Bộ luật dân sự) hủy hay chấm dứt hợp đồng khi một bên có vi phạm, nhất là khi lợi ích hợp pháp hay phần lớn lợi ích hợp pháp mà bên bị vi phạm mong đợi khi giao kết không thể đạt được7.

Ví dụ tương tự có thể thấy được trong Luật hợp đồng năm 1999 của Trung Quốc. Luật năm 1999 này gồm hai phần, phần chung về hợp đồng và phần riêng về một số hợp đồng thông dụng. Điều 94 (phần chung) cho phép một bên hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng khi hợp đồng không thể thực hiện được do hiện tượng bất khả kháng; do một bên không thực hiện nghĩa vụ chủ yếu mặc dù bên kia đã cho thêm một thời hạn để thực hiện; do chậm thực hiện hợp đồng hay vi phạm khác làm cho mục đích của hợp đồng không thể thực hiện được. Bên cạnh Điều 94 (phần chung) trên, chúng ta còn thấy một số Điều khoản trong phần riêng về hợp đồng thông dụng quy định những trường hợp mà một bên có thể hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng. Ví dụ theo Điều 227, nếu bên thuê không trả tiền thuê hoặc chậm trả tiền thuê không có lý do, bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong một khoảng thời gian hợp lý. Sau thời hạn này, bên thuê có quyền chấm dứt hợp đồng.

Chúng ta cũng nên theo cách điều chỉnh trên của Pháp và Trung Quốc. Cụ thể là, bên cạnh việc phần riêng về một số hợp đồng thông dụng quy định những trường hợp một bên có quyền hủy, đình chỉ hợp đồng, phần chung về hợp đồng của Bộ luật dân sự nên ghi nhận một cách bao quát các trường hợp mà hợp đồng không được thực hiện có thể bị hủy bỏ, đình chỉ.

Như đã đề cập trong phần mở đầu, các bên xác lập hợp đồng là để đạt được lợi ích hợp pháp mà họ mong muốn. Nói một cách khác, hợp đồng được thiết lập không để bị hủy bỏ hay đình chỉ thực hiện mà là để mang lại cho các bên lợi ích hợp pháp mong đợi khi giao kết. Vậy, chúng ta cần hạn chế tối đa việc cho phép hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng. Song, chúng ta cũng không nên để cho một bên bị rằng buộc bởi một hợp đồng mà họ không đạt được lợi ích hợp pháp mong đợi do sự vi phạm của bên kia. Vậy, tùy vào mức độ vi phạm mà chúng ta cho phép hay không hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng. Chúng ta chỉ nên cho phép hủy, đình chỉ hợp đồng khi vi phạm là nghiêm trọng8. Đối với vi phạm hợp đồng không nghiêm trọng, chúng ta không nên cho phép hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng9; và ở đây, việc cho phép bên bị vi phạm đòi bồi thường thiệt hại là đủ.

Đối với Bộ luật dân sự, chúng ta có thể quy định thêm trong Điều 419 và 420 như sau: Một bên có quyền hủy bỏ (hay đơn phương đình chỉ) hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng hợp đồng.

Trước khi kết thúc vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng sau khi hết thời hạn thực hiện, xin đề cập thêm đến một số quy phạm trong phần hợp đồng thông dụng của Bộ luật dân sự. Ở đây, chúng ta thấy một số quy phạm biểu hiện hạn chế vì chúng cho phép hủy, đình chỉ hợp đồng một cách quá máy móc. Xin trích hai ví dụ:

Theo Điều 428 về hợp đồng mua bán tài sản, “trong trường hợp bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận, thì bên mua có một trong các quyền sau đây: Hủy bỏ hợp đồng”. Việc cho phép hủy hợp đồng mỗi khi bên bán giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận như Điều 428 là không nên. Ví dụ, theo hợp đồng, A phải giao cho B 1000 chiếc ghế vào ngày 30 tháng 06. Nhưng khi giao hàng A chỉ có 999 chiếc ghế. Vậy, A đã giao ít hơn số lượng đã thỏa thuận 01 ghế. Áp dụng Điều 428, chúng ta sẽ cho phép B hủy hợp đồng trong khi đó việc vi phạm trên không làm ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích mà bên B mong đợi khi xác lập hợp đồng.

Theo Điều 710, khoản 2 về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, bên chuyển quyền sử dụng đất có quyền “hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu bên nhận quyền sử dụng đất trả tiền chuyển nhượng không đúng thời hạn hoặc không đầy đủ”. Việc cho phép hủy hợp đồng mỗi khi bên nhận quyền sử dụng đất trả tiền chuyển nhượng không đúng thời hạn như Điều 710, khoản 2 cũng là không nên. Ví dụ, theo hợp đồng, A phải giao cho B 100 triệu ngày 30 tháng 06. Nhưng vì một lý do nào đó, A chỉ có thể giao cho B khoản tiền trên vào ngày 01 tháng 07. Nếu quy định như Điều 710, khoản 2 trên, B được quyền hủy hợp đồng trong khi đó A chỉ trả muộn so với thỏa thuận 01 ngày. Việc làm này là không nên vì thông thường muộn một hay vài ngày giao tiền không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích mà bên B mong muốn đạt được khi xác lập hợp đồng.

Vậy, chúng ta nên rà soát lại các quy phạm trong phần hợp đồng thông dụng của Bộ luật dân sự liên quan đến hủy, đình chỉ hợp đồng. Đối với những quy phạm như Điều 428 về hợp đồng mua bán tài sản hay Điều 710, khoản 2 về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất đã đề cập ở trên, chúng ta nên viết lại hay bỏ đi. Trong trường hợp bỏ đi, vấn đề hủy, đình chỉ hợp đồng vì không được thực hiện sẽ do những quy phạm trong phần chung về hợp đồng điều chỉnh.

2. Hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện

Quay lại với ví dụ đề cập trong phần mở đầu: Theo hợp đồng ký kết ngày 01/6, A phải cung cấp cho B một lượng hàng C vào ngày 30/6. Rất có thể vào ngày 15/6, B biết chắc rằng đến ngày 30/6, A sẽ không thực hiện hợp đồng. Chẳng hạn, cho đến ngày 15/6, B được A thông báo hai lần rằng A không muốn thực hiện hợp đồng nữa hoặc, ngày 15, B được biết rằng A đã bán và giao toàn bộ tài sản C cho người khác. Ở đây, đến ngày 15/6, tức là trước ngày hết thời hạn mà bên A phải thực hiện hợp đồng, B biết chắc là đến ngày 30/6 hợp đồng sẽ không được thực hiện. Vấn đề đặt ra là B có quyền được hủy hợp đồng vào ngay ngày 15/6 hay không ?

Trong phần liên quan đến hợp đồng, chúng ta không thấy Bộ luật dân sự cho phép một bên hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện khi thấy rõ bên kia sẽ vi phạm hợp đồng. Đây là một lạc hậu so với pháp luật một số nước và một số văn bản quốc tế hiện đại. Ở Anh, vấn đề vi phạm hợp đồng trước khi hết hạn thực hiện được án lệ điều chỉnh rất sớm và có thể nói là vào ngay nửa đầu thế kỷ thứ 1910. Ở Pháp, Tòa án cũng cho phép một bên hủy hợp đồng trước khi hết thời hạn thực hiện khi bên phải thực hiện cho biết sẽ không thực hiện hợp đồng11.

Theo Điều 72, khoản 1 Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, “trước khi đến ngày thực hiện hợp đồng, một bên có quyền tuyên bố hợp đồng bị hủy bỏ nếu thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng”12. Theo Điều 7.3.3 Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, “một bên có quyền hủy hợp đồng nếu, trước khi đến thời hạn thực hiện, thấy rõ là bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng”13. Tương tự, theo Điều 9:304 Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, “nếu, ngay trước ngày mà hợp đồng phải thực hiện, thấy rõ là một bên sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, bên kia có quyền hủy hợp đồng”14.

Trình bày trên cho thấy, về vấn đề hủy hay đình chỉ hợp đồng trước thời hạn phải thực hiện, Bộ luật dân sự nước ta biểu hiện một số lạc hậu. Một câu hỏi đặt ra là chúng ta có nên bổ sung vấn đề này vào Bộ luật dân sự hay không? Thiết nghĩ là có vì các lý do sau:

Thật là không có tình và bất công khi không cho phép một bên hủy hay chấm dứt hợp đồng trong khi đó biết chắc là bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng. Mặt khác, cho phép một bên hủy hay đình chỉ hợp đồng trong trường bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng có lợi về kinh tế. Ví dụ, khi biết chắc là bên mua sẽ không nhận hàng và không trả tiền, cho phép người bán hủy hợp đồng sẽ giúp họ sớm tìm được nguồn tiêu thụ mới hoặc quyết định không tiếp tục sản xuất nữa để tránh bị tồn đọng thừa hàng. Hoặc, nếu cho phép bên mua hủy hợp đồng khi biết chắc là bên bán sẽ không thực hiện hợp đồng, chúng ta sẽ giúp người mua sớm đi tìm người bán khác để có được số lượng hàng cần mua nhằm đáp ứng được nhu cầu của mình.

Chúng ta đang hướng tới Tổ chức thương mại quốc tế trong khi đó các văn bản quốc tế về thương mại, như vừa đề cập, cho phép một bên hủy hợp đồng khi biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện một phần quan trọng của hợp đồng. Việc bổ sung vào Bộ luật dân sự nước ta các quy định tương tự sẽ, một lần nữa, cho thế giới biết rằng chúng ta thực sự muốn hoà nhập vào Tổ chức thương mại quốc tế. Xin nói thêm ở đây là, trước năm 1999, ở Trung Quốc, vấn đề vi phạm hợp đồng trước thời hạn thực hiện chỉ được đề cập trong Luật về hợp đồng kinh tế với nước ngoài15; các văn bản khác về hợp đồng như Luật về hợp đồng kinh tế hay Luật về chuyển giao công nghệ hoàn toàn không đề cập đến vấn đề này. Với quyết tâm hòa nhập vào Tổ chức thương mại quốc tế16, năm 1999, Trung Quốc đã bãi bỏ các Luật trên và cho ra đời Luật hợp đồng duy nhất. Trong Luật 1999, Trung Quốc thừa nhận quyền một bên hủy hợp đồng khi biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng: Theo Điều 94, khoản 2, “hợp đồng có thể bị hủy nếu, trước thời điểm thực hiện hợp đồng, một bên cho thấy sẽ không thực hiện nghĩa vụ chính của hợp đồng”.

Vậy, nhân dịp sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự, thiết nghĩ chúng ta cũng nên bổ sung thêm quy định cho phép một bên hủy hợp đồng ngay cả khi chưa hết thời hạn thực hiện nếu biết chắc rằng bên kia sẽ không thực hiện hợp đồng. Ví dụ chúng ta có thể quy định thêm như sau: Trước khi đến ngày mà hợp đồng phải thực hiện, một bên có quyền hủy bỏ hay đình chỉ hợp đồng khi biết chắc rằng bên kia sẽ vi phạm nghiêm trọng hợp đồng.

Nói tóm lại, về vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm, Bộ luật dân sự nước ta thể hiện một số bất cập và lạc hậu so với một số pháp luật và văn bản quốc tế hiện đại. Thiết nghĩ nhân dịp sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự, chúng ta cũng nên sửa đổi, bổ sung và hiện đại hóa văn bản quan trọng này về vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vị phạm. Trên đây là ý kiến cá nhân tôi về vấn đề này. Thiết nghĩ, đây là vấn đề phức tạp, rất mong có sự quan tâm, trao đổi thêm để cùng nhau hoàn thiện, hiện đại hóa pháp luật nước nhà.

1 Xem Điều 130, 132 và 394 BLDS Việt Nam. Theo cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb CTQG, 2001, tập I, tr. 271, “dù là hành vi tuyên bố đơn phương của một người, hay hành vi xác lập hợp đồng dân sự, các chủ thể đều hướng tới mục đích nhất định. Tuy mục đích mà các bên hướng tới là khác nhau nhưng đều nhằm đáp ứng lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần của họ”.

2 Về vấn đề hủy hợp đồng, xem thêm: Nguyễn Ngọc Khánh, “Chế định hợp đồng: Những quy định chung và một số vấn đề cần hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12/2003, trang 38 và 39.

3 “Khi hợp đồng bị hủy bỏ, thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải trả bằng tiền” (Điều 419).

4 “Khi hợp đồng bị đơn phương đình chỉ thực hiện, thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán” (Điều 420).

5 Ví dụ được dựa vào một vụ việc cụ thể mà tòa án Việt Nam đã gặp phải (Tòa án tối cao năm 2000). Nhưng, ở đây, một số thông tin như năm xác lập hợp đồng, giá cả và tên của các bên trong tranh chấp được thay đổi.

6 Điều 1722 trên cho phép chấm dứt hợp đồng khi tài sản bị mất hay bị hỏng do sự cố bất khả kháng. Theo Tòa án tối cao Pháp, Điều này cũng được áp dụng khi tài sản bị mất hay bị hỏng do lỗi của một bên (ví dụ, xem phòng dân sự số 3, ngày 22 tháng 01 năm 1997: Tạp chí Dalloz 1997, tr. 43, bình luận Farnocchia; Tạp chí JCP 1997, II, 22943, bình luận Djigo; Tạp chí RD imm. 1997, tr. 296, bình luận Collart-Dutilleul; Tạp chí Contrats. Conc. Consom. 1997, phần số 58, bình luận Leveneur).

7 Về vấn đề này, xem thêm: Đỗ Văn Đại, Vai trò của lợi ích tư nhân trong hợp đồng ở Pháp (Nxb PUAM 2004, với lời giới thiệu của Giáo sư, Tiến sỹ, Hiệu trưởng Jacques MESTRE, đặc biệt phần số 141 và tiếp theo).

8 Cách điều chỉnh này đã phần nào tồn tại nhưng nằm rải rác trong BLDS. Ví dụ theo Điều 497, khoản 1, điểm c và khoản 2, điểm a về hợp đồng thuê nhà ở: “Bên cho thuê nhà có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê nhà và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên thuê cố ý làm nhà hư hỏng nghiêm trọng”; “Bên thuê nhà có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng thuê nhà và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên cho thuê có một trong các hành vi sau đây: Không sửa chữa nhà khi chất lượng nhà giảm sút nghiêm trọng”.

9 Cách điều chỉnh này đã phần nào tồn tại nhưng nằm rải rác trong BLDS. Ví dụ theo Điều 513, khoản 2 về hợp đồng thuê khoán, “trong trường hợp bên thuê khoán vi phạm nghĩa vụ, mà việc khai thác đối tượng thuê khoán là nguồn sống duy nhất của bên thuê khoán và việc tiếp tục thuê khoán không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của bên cho thuê khoán, thì bên cho thuê khoán không được đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng; bên thuê khoán phải cam kết với bên cho thuê khoán không được tiếp tục vi phạm hợp đồng”.

10 Y. M. Laithier, Nghiên cứu so sánh về các chế tài của vi phạm hợp đồng, Luận án tiến sĩ, Paris I, 2002.

11 Xem: Tòa án thương mại Havre ngày 28 tháng 11 năm 1934: Rec. du Havre, 1935, 1, tr. 68; RTD civ., 1935, tr. 647, no13, bình luận R. DEMOGUE.

12 Về bản dịch sang tiếng Việt của Công ước này, xem thêm: Phạm Minh, Luật thương mại quốc tế, Nxb Thống kê, 2000, trang 886 và tiếp theo.

13 Về bản dịch sang tiếng Việt của những nguyên tắc này, xem thêm: Lê Nết, Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1999.

14 Các văn bản trên sử dụng thuật ngữ inexécution hay contravention “essentielle”. Trong thực tiễn, thuật ngữ inexécution hay contravention “essentielle” này có thể được dịch là vi phạm “cơ bản”, vi phạm “một phần chủ yếu” hay vi phạm “nghiêm trọng”.

15 Xem Điều 17, Luật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về hợp đồng kinh tế với nước ngoài. Chính xác là Luật này cho phép một bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng khi thấy bên kia có khả năng sẽ không thực hiện hợp đồng.

16 Trung Quốc tham gia Tổ chức thương mại quốc tế năm 2001.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Ngày cập nhật (Thứ ba, 23 12 2008 08:42)

 
Chế độ hiển thị tốt nhất: 1024 x 800  với MoZilla Firefox