DANH MỤC
THÔNG TIN KHÁC
Nhà sách Online
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Quy chế tạm thời đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ của trường ĐH Luật TP.HCM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HCM

Số: 548/ QĐ-ĐHL

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TP. Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 5 năm 2009

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành Quy chế tạm thời đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ

HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Quyết định số 118/2000/QĐ - TTg ngày 10/10/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc thay đổi tổ chức của Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (tách Trường Đại học Luật thuộc Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh thành Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo);

Căn cứ Điều lệ Trường Đại học được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/07/2003 của Thủ tướng Chính phủ;

Căn cứ Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/08/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ;

Theo đề nghị của ông Trưởng Phòng Đào tạo,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế tạm thời đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Điều 2. Quy chế này áp dụng từ khóa tuyển sinh đại học hệ chính quy năm 2009.

Điều 3. Trưởng Phòng Đào tạo, Trưởng Phòng Công tác Chính trị - Sinh viên, Trưởng các Khoa, Bộ môn thuộc trường, Giám đốc Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo và Phương pháp giảng dạy và Trưởng các đơn vị có liên quan căn cứ Quyết định thi hành.


Nơi nhận: HIỆU TRƯỞNG

- Như Điều 3;

- Lưu: Văn thư, Đào tạo.


QUY CHẾ TẠM THỜI

ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ

(ban hành kèm theo Quyết định số 548/2009/QĐ-ĐHL

ngày 05/05/2009 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh)

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng.

1. Quy chế này quy định về đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.

2. Quy chế này được áp dụng cho sinh viên hệ chính quy trình độ đại học tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Điều 2. Mục tiêu của chương trình giáo dục đại học ngành luật và ngành quản trị - luật.

1. Mục tiêu của chương trình giáo dục đại học (sau đây gọi tắt là chương trình) ngành luật và ngành quản trị - luật nhằm đào tạo nguồn nhân lực ngành luật và ngành quản trị - luật ở trình độ đại học có lập trường chính trị vững vàng; có phẩm chất đạo đức và ý thức tổ chức kỷ luật tốt; nắm vững kiến thức cơ bản về pháp luật và quản trị; và những kiến thức về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có liên quan đến lĩnh vực pháp luật và lĩnh vực quản trị, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.

2. Chương trình đào tạo của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó thể hiện: chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ và đạo đức nghề nghiệp; khối lượng kiến thức toàn khóa học, thời gian đào tạo, quy trình đào tạo và điều kiện tốt nghiệp; thang điểm học phần và cách thức đánh giá kết quả học tập của từng học phần.

3. Nội dung chương trình đào tạo được cấu trúc từ các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương và khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp.

- Khối kiến thức giáo dục đại cương (gồm các học phần thuộc các lĩnh vực khoa học chính trị, xã hội, nhân văn, tự nhiên, pháp lý và quản trị) nhằm trang bị cho sinh viên nền học vấn có thế giới quan và nhân sinh quan khoa học; hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người; nắm vững phương pháp tư duy khoa học; biết trân trọng các di sản văn hoá của dân tộc và nhân loại; có đạo đức, nhận thức đúng đắn trách nhiệm công dân; có năng lực xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

- Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp nhằm trang bị cho sinh viên nền tảng lý luận và kỹ năng giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật và quản trị doanh nghiệp.

4. Tổng số tín chỉ tối đa quy định cho các chương trình đào tạo: cử nhân luật là 130 tín chỉ, cử nhân quản trị - luật là 175 tín chỉ.

Điều 3. Học phần và tín chỉ.

1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Một học phần có khối lượng từ 02 (hai) đến 04 (bốn) tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn, phân bố đều trong 01 (một) học kỳ và được Phòng Đào tạo ký hiệu bằng 01 (một) mã số riêng.

2. Các loại học phần:

a) Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy. Khối lượng các học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo chiếm tối đa 90% (chín mươi phần trăm) tổng khối lượng kiến thức toàn khoá học.

b) Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết. Sinh viên tự chọn các học phần có trong kế hoạch giảng dạy được Phòng Đào tạo công bố vào đầu học kỳ trên cơ sở tư vấn, hướng dẫn của cố vấn học tập nhằm đảm bảo đến cuối khóa học sinh viên tích lũy đủ số tín chỉ quy định của từng chương trình đào tạo. Khối lượng các học phần tự chọn trong chương trình đào tạo chiếm tối thiểu 10% (mười phần trăm) tổng khối lượng kiến thức toàn khoá học.

c) Học phần tiên quyết là học phần bắt buộc sinh viên phải học trước và thi đạt thì mới được đăng ký học tiếp sang học phần khác.

d) Học phần trước là học phần bắt buộc sinh viên phải học trước (có thể thi chưa đạt) thì mới được đăng ký học tiếp sang học phần khác.

e) Học phần điều kiện là học phần không tính vào điểm trung bình chung tích lũy, nhưng sinh viên phải học và thi đạt yêu cầu thì mới được nhà trường cấp bằng tốt nghiệp, gồm: giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất .v.v... .

3. Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Sinh viên chủ động lập kế hoạch và đăng ký học tập trên cơ sở tư vấn của cố vấn học tập, nhằm tích luỹ từng phần kiến thức theo tiến độ phù hợp với điều kiện và năng lực của bản thân để được cấp bằng tốt nghiệp.

Đơn vị được dùng để tính khối lượng học tập của sinh viên theo Quy chế này là tín chỉ. 01 tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 tiết thực hành hoặc thảo luận; 60 tiết làm tiểu luận hoặc khoá luận tốt nghiệp.

Đối với học phần chỉ có lý thuyết hoặc lý thuyết kết hợp với thảo luận, thực hành thì để tiếp thu được 01 tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

4. Đối với các học phần trong chương trình đào tạo cử nhân luật hiện hành đã được tính theo đơn vị học trình, thì cứ 1,5 (một phẩy năm) đơn vị học trình được quy đổi thành 01 (một) tín chỉ.

5. Một tiết học được tính bằng 50 phút.

Điều 4. Thời gian hoạt động giảng dạy.

1. Thời gian hoạt động giảng dạy được tính từ 07g00' đến 20g00' hằng ngày.

2. Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất hiện có của trường, Phòng Đào tạo sắp xếp thời khóa biểu hàng ngày cho các lớp.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập.

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký);

2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần;

3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B+, B, C+,C, D+, D tính từ đầu khóa học;

4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B+, B, C+, C, D+, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.


Chương II

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian đào tạo một khóa học.

1. Nhà trường tổ chức đào tạo theo khoá học, năm học và học kỳ.

a) Khoá học là thời gian được thiết kế để sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo tại trường. Thời gian hoàn thành chương trình đào tạo cử nhân luật là 04 (bốn) năm và chương trình đào tạo cử nhân quản trị - luật là 05 (năm) năm.

b) 01 (một) năm học có 02 (hai) học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 (mười lăm) tuần thực học và 03 (ba) tuần thi. Ngoài 02 (hai) học kỳ chính, tùy theo tình hình thực tế, Trưởng Phòng Đào tạo đề nghị Hiệu trưởng tổ chức thêm học kỳ phụ trong dịp hè.

2. Căn cứ vào khối lượng và nội dung kiến thức tối thiểu quy định cho mỗi ngành đào tạo, Phòng Đào tạo phân bổ số học phần cho từng học kỳ, từng năm học.

3. Thời gian tối đa hoàn thành chương trình đào tạo bao gồm: thời gian thiết kế cho chương trình quy định tại mục a khoản 1 của Điều này, cộng với tối đa 04 (bốn) học kỳ đối với chương trình đào tạo cử nhân luật và tối đa 06 (sáu) học kỳ đối với chương trình đào tạo cử nhân quản trị - luật.

4. Sinh viên được hưởng chính sách ưu tiên theo đối tượng quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình đào tạo.

Điều 7. Kế hoạch đào tạo và điều chỉnh kế hoạch đào tạo.

1. Kế hoạch đào tạo.

Đầu mỗi năm học và đầu mỗi học kỳ, Phòng Đào tạo xây dựng kế hoạch giảng dạy tổng thể cho cả năm học và lịch trình giảng dạy của từng học kỳ (lịch trình học) cho tất cả các lớp học;

Kế hoạch và lịch trình giảng dạy được xây dựng trên cơ sở ý kiến đóng góp của các đơn vị trong trường và phải được công bố chậm nhất 30 (ba mươi) ngày trước khi bước vào năm học mới, học kỳ mới;

Kế hoạch và lịch trình giảng dạy được thực hiện khi được Hiệu trưởng ký quyết định ban hành.

2. Điều chỉnh kế hoạch đào tạo.

Giảng viên không được tự ý đổi giờ giảng cho nhau; không được tự ý chuyển lớp học từ giảng đường này sang giảng đường khác;

Nếu thấy cần thiết phải điều chỉnh lịch học của một học phần hoặc cần phải thay thế một học phần nào đó thì giảng viên phải đề nghị với Trưởng Khoa để trao đổi trực tiếp với Trưởng Phòng Đào tạo thống nhất hướng giải quyết;

Trưởng Phòng Đào tạo không thực hiện những yêu cầu điều chỉnh hoặc bổ sung lịch trình giảng dạy nếu xét thấy sự điều chỉnh hoặc bổ sung đó ảnh hưởng đến tiến trình và tiến độ thực hiện kế hoạch giảng dạy chung của toàn trường.

Điều 8. Đăng ký nhập học.

1. Khi nhập học, sinh viên phải nộp đầy đủ các loại giấy tờ đã được nhà trường thông báo trong Giấy báo nhập học. Tất cả các loại giấy tờ này phải được xếp vào túi hồ sơ của cá nhân do Phòng Công tác Chính trị - Sinh viên quản lý.

2. Sau khi xem xét thấy đủ các giấy tờ theo quy định, Phòng Công tác Chính trị - Sinh viên cấp cho sinh viên:

a) Thẻ sinh viên;

b) Sổ đăng ký học tập;

c) Sổ tay sinh viên, trong đó thể hiện các thông tin: kế hoạch học tập theo từng học kỳ, từng năm học của từng chương trình đào tạo; Quy chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ; Quy chế về công tác sinh viên;

d) Phiếu nhận cố vấn học tập.

3. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành.

Điều 9. Sắp xếp sinh viên vào học các ngành đào tạo.

1. Thí sinh đã đăng ký và đạt điểm xét tuyển vào ngành đào tạo nào sẽ được Phòng Đào tạo bố trí vào học đúng ngành học đó.

2. Khi được Phòng Đào tạo bố trí vào học đúng ngành đã đăng ký, nếu có nguyện vọng chuyển sang học ngành khác và có lý do thật chính đáng thì sinh viên làm đơn gởi Phòng Đào tạo để trình Hiệu trưởng xem xét, quyết định.

Điều 10. Tổ chức lớp học.

1. Lớp học được tổ chức theo từng học phần, dựa vào số lượng sinh viên đăng ký học ở từng học kỳ.

2. Số lượng sinh viên tối thiểu cho mỗi lớp học được quy định như sau:

a) Tối thiểu 30 sinh viên: đối với các lớp Anh văn và các học phần thuộc khối kiến thức chuyên ngành tự chọn có định hướng;

b). Tối thiểu 50 sinh viên: đối với các học phần bắt buộc thuộc khối kiến thức giáo dục chuyên ngành;

c). Tối thiểu 70 sinh viên: đối với các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương.

3. Trường hợp số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu theo quy định tại khoản 2 Điều này thì lớp học không được tổ chức. Sinh viên phải chủ động chuyển sang đăng ký học những học phần có mở lớp, nếu chưa đăng ký đủ số tín chỉ tối thiểu quy định của học kỳ đó.

Điều 11. Đăng ký khối lượng học tập.

1. Đầu khóa học, Phòng Đào tạo thông báo cho sinh viên dự kiến lịch trình giảng dạy tổng thể theo từng học kỳ, từng năm học.

2. Chậm nhất là trước 04 (bốn) tuần khi học kỳ được bắt đầu, Phòng Đào tạo thông báo cho sinh viên biết kế hoạch giảng dạy chi tiết trong học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn được bố trí giảng dạy; điều kiện tiên quyết để được đăng ký học cho từng học phần; dự kiến thời gian thi cuối học kỳ.

3. Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, từng sinh viên phải đăng ký các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó với Phòng Đào tạo. Có 02 (hai) hình thức đăng ký: đăng ký bình thường và đăng ký muộn.

a) Đăng ký bình thường là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học của mỗi học kỳ chính 02 (hai) tuần;

b) Đăng ký muộn là hình thức đăng ký được thực hiện trong 02 (hai) tuần đầu của mỗi học kỳ chính cho những sinh viên muốn đăng ký học thêm hoặc đăng ký sang học phần khác khi học phần đã đăng ký không mở lớp.

4. Khối lượng học tập tối thiểu và tối đa mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

a) Tối thiểu 14 (mười bốn) tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b) Tối thiểu 10 (mười) tín chỉ và tối đa 14 (mười bốn) tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.

5. Việc đăng ký các học phần sẽ học trong từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết của từng học phần trong từng chương trình đào tạo.

6. Phòng Đào tạo chỉ nhận đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở mỗi học kỳ khi đã có sự chấp thuận của cố vấn học tập trong Sổ đăng ký học tập. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên theo từng học kỳ phải được ghi vào Phiếu đăng ký học do Phòng Đào tạo quản lý và lưu giữ.

Điều 12. Rút bớt học phần đã đăng ký.

1. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký chỉ được chấp nhận sau 02 (hai) tuần kể từ đầu học kỳ chính, nhưng không muộn quá 04 (bốn) tuần. Quá thời hạn trên, học phần vẫn được giữ nguyên trong Sổ đăng ký học tập và nếu sinh viên không học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

2. Điều kiện rút bớt học phần đã đăng ký:

a) Sinh viên phải làm đơn gửi Phòng Đào tạo;

b) Được cố vấn học tập chấp thuận;

c) Không vi phạm khoản 3 Điều 11 của Quy chế này.

Sinh viên chỉ được phép không đến lớp đối với học phần xin rút bớt, sau khi giảng viên phụ trách học phần nhận được giấy báo từ Phòng Đào tạo.

Điều 13. Đăng ký học lại.

1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt từ điểm D trở lên.

2. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc đổi sang học học phần tự chọn khác.

3. Ngoài các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này, sinh viên được quyền đăng ký học lại hoặc đăng ký đổi sang học học phần khác (nếu là học phần tự chọn) từ điểm C trở xuống để cải thiện điểm trung bình chung tích lũy.

Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực.

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:

a) Sinh viên năm thứ 1 (một): nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 20 tín chỉ đến dưới 28 tín chỉ;

b) Sinh viên năm thứ 2 (hai): nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 40 tín chỉ đến dưới 56 tín chỉ;

c) Sinh viên năm thứ 3 (ba): nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 60 tín chỉ đến dưới 84 tín chỉ;

d) Sinh viên năm thứ 4 (tư): nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 80 tín chỉ đến dưới 112 tín chỉ đối với ngành quản trị - luật và từ 80 tín chỉ trở lên đối với ngành luật;

đ) Sinh viên năm thứ 5 (năm): nếu khối lượng kiến thức tích lũy từ 100 tín chỉ trở lên đối với ngành quản trị - luật.

2. Sinh viên không được xếp hạng ở năm đào tạo và nếu có nguyện vọng tiếp tục theo học tại trường thì làm đơn nộp Phòng Đào tạo xin xem xét được học thêm tối đa một học kỳ.

3. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a) Hạng bình thường: nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.

b) Hạng yếu: nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00 nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.

Điều 15. Nghỉ ốm.

Sinh viên bị ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải làm đơn xin phép gửi Phòng Đào tạo trong vòng 01 (một) tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của cơ quan y tế từ cấp quận, huyện trở lên.

Điều 16. Nghỉ học tạm thời.

1. Sinh viên được quyền làm đơn gửi Hiệu trưởng (thông qua Phòng Đào tạo) xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

a) Được điều động vào các lực lượng vũ trang;

b) Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị trong thời gian dài (phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế từ cấp quận, huyện hoặc tương đương trở lên);

c) Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học theo quy định tại Điều 17 của Quy chế này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 trở lên (được xếp hạng học lực bình thường). Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân được tính vào thời gian học chính thức được quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này.

2. Sau khi có quyết định nghỉ học tạm thời, sinh viên nói tại điểm a, b khoản 1 Điều này nếu đã đóng học phí thì được nhà trường hoàn lại toàn bộ học phí; sinh viên nói tại điểm c khoản 1 Điều này đã đóng học phí và có thời gian học dưới 1/2 thời lượng học phần thì được nhà trường hoàn lại toàn bộ học phí.

3. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại trường phải làm đơn gửi Phòng Đào tạo chậm nhất 02 (hai) tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới.

Điều 17. Bị buộc thôi học.

1. Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị buộc thôi học nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo hoặc đạt dưới 1,10 đối với 2 học kỳ liên tiếp;

b) Có điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm thứ 1 (một); dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ 2 (hai); dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ 3 (ba) hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khoá;

c) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại trường quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này;

d) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 31 của Quy chế này hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của trường.

2. Chậm nhất là 04 (bốn) tuần sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Phòng Đào tạo thông báo về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú.

3. Sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học được quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 của Điều này, nếu có nguyện vọng chuyển sang học hệ vừa làm vừa học (hệ tại chức cũ) phải làm đơn (kèm bảng điểm) nộp cho Phòng Đào tạo. Nếu được chuyển sang học hệ vừa làm vừa học, sinh viên được xem xét bảo lưu một phần hoặc toàn bộ kết quả học tập.

Điều 18. Chuyển trường.

1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:

a) Trong thời gian học tập, nếu sinh viên hoặc gia đình sinh viên chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;

b) Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;

c) Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.

2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:

a) Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;

b) Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển quy định của trường xin chuyển đến;

c) Sinh viên năm thứ 1 (một) và năm cuối khóa;

d) Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

3. Thủ tục chuyển trường:

a) Hồ sơ xin chuyển trường bao gồm:

- Đơn xin chuyển trường (theo mẫu);

- Văn bản đồng ý tiếp nhận của Hiệu trưởng trường xin chuyển đến.

b) Sau khi hoàn tất hồ sơ, sinh viên nộp hồ sơ này cho Phòng Đào tạo.

c) Trong thời hạn 07 (bảy) ngày làm việc, Phòng Đào tạo trả lời kết quả chuyển trường cho sinh viên.


Chương III

KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN

Điều 19.  Đánh giá học phần.

1. Đối với học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết, thảo luận và thực hành thì tùy theo tính chất của từng học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần.

a) Điểm đánh giá bộ phận có trọng số bằng 30% điểm học phần, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên, điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận, điểm tiểu luận.

Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận của 01 (một) học phần được quy định trong đề cương chi tiết học phần hoặc trong hồ sơ môn học.

Nếu kiểm tra thường xuyên được tổ chức nhiều lần thì điểm kiểm tra của học phần đó là trung bình cộng của các lần kiểm tra.

Điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận (gọi tắt điểm thảo luận) được tính theo 02 (hai) mức độ:

- Tích cực tham gia thảo luận và có kiến thức khá được cộng thêm tối đa là 01 (một) điểm;

- Tích cực tham gia thảo luận và có kiến thức giỏi hoặc xuất sắc được cộng thêm tối đa là 02 (hai) điểm.

b) Điểm thi kết thúc học phần có trọng số bằng 70% điểm học phần và được tổ chức thi vào cuối mỗi học kỳ.

c) Điểm học phần bằng 70% điểm thi kết thúc học phần cộng 30% điểm đánh giá bộ phận.

2. Giảng viên phụ trách học phần trực tiếp ra đề kiểm tra thường xuyên và cho điểm đánh giá bộ phận (gồm điểm kiểm tra, điểm thảo luận, điểm tiểu luận), trừ đề thi và chấm bài thi kết thúc học phần.

Điều 20. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần.

1. Cuối mỗi học kỳ, nhà trường chỉ tổ chức 01 (một) kỳ thi. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, cứ 2/3 (hai phần ba) ngày cho 01 (một) tín chỉ.

2. Sinh viên vắng mặt không có lý do trong kỳ thi kết thúc học phần phải nhận điểm 0 (không) của học phần đó; nếu có lý do chính đáng sẽ được Phòng Đào tạo bố trí thi vào học kỳ liền kề. Sinh viên không tham dự kỳ thi đã được bố trí thì phải nhận điểm 0 (không) của học phần đó.

Điều 21. Hình thức thi, ra đề thi và chấm thi kết thúc học phần.

1. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), trắc nghiệm trên máy tính, vấn đáp, viết tiểu luận hoặc kết hợp giữa các hình thức trên.

Hình thức thi kết thúc học phần được Phòng Đào tạo thông báo cho sinh viên biết trước khi tổ chức kỳ thi chậm nhất là 04 (bốn) tuần.

2. Ra đề thi kết thúc học phần được thực hiện theo Quy định về việc làm đề thi, quản lý và in sao đề thi (kèm theo Quyết định số 1844/QĐ-ĐHL ngày 12/12/2007 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) và Quy chế tổ chức thi và chấm thi kết thúc học phần (kèm theo Quyết định số 889/QĐ-ĐHL ngày 24/06/2008 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh).

3. Thời gian thi kết thúc học phần đối với hình thức thi viết tối thiểu là 60 phút và tối đa là 120 phút.

4. Việc chấm thi kết thúc học phần theo hình thức thi viết, vấn đáp hoặc viết tiểu luận được thực hiện theo Quy chế tổ chức thi và chấm thi kết thúc học phần (kèm theo Quyết định số 889/QĐ-ĐHL ngày 24/06/2008 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh).

5. Điểm đánh giá bộ phận, điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của Phòng Đào tạo, có chữ ký của giảng viên phụ trách học phần (đối với điểm đánh giá bộ phận) hoặc của cả hai giảng viên chấm thi (đối với điểm thi kết thúc học phần) và làm thành 03 (ba) bản. 01 (một) bản lưu tại Tổ bộ môn, 01 (một) bản gửi về Văn phòng Khoa và 01 (một) bản gửi về Phòng Đào tạo.

Điều 22. Công bố điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần.

1. Việc công bố điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được thực hiện theo Quy chế tổ chức thi và chấm thi kết thúc học phần (kèm theo Quyết định số 889/QĐ-ĐHL ngày 24/06/2008 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh).

2. Đối với hình thức thi kết thúc học phần là thi viết hoặc viết tiểu luận, nếu không đồng ý với kết quả thi đã công bố, sinh viên được quyền đề nghị phúc khảo bài thi hoặc tiểu luận tại Văn phòng Khoa trong thời hạn 01 (một) tuần kể từ ngày công bố điểm học phần. Các Khoa công bố kết quả phúc khảo và chuyển kết quả phúc khảo bài thi có thay đổi kết quả điểm học phần cho Phòng Đào tạo trong thời hạn 01 (một) tuần kể từ ngày hết thời hạn nhận đơn phúc khảo.

Điều 23. Quy trình chấm thi và lưu giữ các bài thi.

1. Quy trình chấm thi và bảo quản các bài thi trong quá trình chấm được thực hiện theo Quy chế tổ chức thi và chấm thi kết thúc học phần (kèm theo Quyết định số 889/QĐ-ĐHL ngày 24/06/2008 của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh).

2. Thời gian lưu giữ các bài thi viết và tiểu luận ít nhất là 02 (hai) năm, kể từ ngày thi hoặc ngày nộp tiểu luận.

3. Các bài thi viết được lưu giữ tại Phòng Đào tạo; tiểu luận hết môn, tiểu luận cuối khóa và khóa luận tốt nghiệp được lưu giữ tại Văn phòng Khoa.

Điều 24. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm thi kết thúc học phần, điểm thi cuối khóa và điểm khóa luận tốt nghiệp.

1. Điểm đánh giá bộ phận, điểm thi kết thúc học phần, điểm thi cuối khóa và điểm khóa luận tốt nghiệp được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10) và được làm tròn đến 0,5 (không phẩy năm).

2. Điểm học phần là tổng điểm của điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần nhân với trọng số tương ứng theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Quy chế này. Điểm học phần quy tròn đến 0,5 (không phẩy năm), sau đó được chuyển thành các điểm chữ như sau:

a) Loại đạt:

Stt

Thang điểm 10

Xếp loại

Chuyển sang thang điểm chữ

Ghi chú

1.

Từ 9,5 và 10,0

Xuất sắc

A


2.

Từ 8,5 và 9,0

Giỏi

B+


3.

Từ 7,5 và  8,0

Khá

B


4.

Từ 6,5 và  7,0

Trung bình khá

C+


5.

Từ 5,5 và  6,0

Trung bình

C


6.

Điểm 5,0

Trung bình yếu

D+


7.

Từ 4,0 đến 4,5

Yếu

D


b) Loại không đạt:

Stt

Thang điểm 10

Xếp loại

Chuyển sang thang điểm chữ

Ghi chú

1.

Dưới 4,0

Kém

F


3. Nguyên tắc quy tròn điểm: nếu điểm đánh giá bộ phận, điểm thi kết thúc học phần, điểm thi cuối khóa và điểm khóa luận tốt nghiệp có điểm lẻ dưới 0,25 (không phẩy hai lăm) thì quy tròn thành 0,0 (không); có điểm lẻ từ 0,25 (không phẩy hai lăm) đến dưới 0,75 (không phẩy bảy lăm) thì quy tròn thành 0,5 (không phẩy năm); có điểm lẻ từ 0,75 (không phẩy bảy lăm) đến dưới 1,0 (một) thì quy tròn thành 1,0 (một).

4. Đối với những học phần chưa đủ cơ sở để đưa vào tính điểm trung bình chung tích lũy của học kỳ, khi xếp mức đánh giá được sử dụng các ký hiệu sau:

Stt

Ký hiệu

Nội dung

Ghi chú

1.

I

Chưa đủ dữ liệu đánh giá


2.

X

Chưa nhận được kết quả thi


4.1. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a) Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học phần, sinh viên bị ốm hoặc bị tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, được Trưởng Phòng Đào tạo cho phép;

b) Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khác, được Trưởng Phòng Đào tạo chấp thuận.

Trước khi bắt đầu học kỳ kế tiếp, sinh viên nhận mức điểm I phải trả xong các nội dung kiểm tra bộ phận để được chuyển điểm theo yêu cầu của giảng viên phụ trách học phần. Trường hợp sinh viên chưa trả nợ và chưa chuyển điểm nhưng không rơi vào trường hợp bị buộc thôi học thì vẫn được học tiếp ở các học kỳ kế tiếp.

4.2. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Phòng Đào tạo chưa nhận được báo cáo kết quả học tập của sinh viên từ các Khoa chuyển lên.

5. Đối với những học phần được nhà trường cho phép chuyển điểm từ trường khác đến (bảo lưu kết quả học), khi đánh giá xếp hạng được sử dụng ký hiệu R viết kèm với kết quả.

6. Việc xếp loại các mức điểm A, B+, B, C+, C, D+, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a) Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0 (không);

b) Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có điểm đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên phụ trách học phần cho phép nợ;

c) Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.

7. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu tại khoản 6 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm quy chế thi và đã có quyết định xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

Điều 25. Cách tính điểm trung bình chung.

1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:

Stt

Mức điểm chữ

Quy đổi sang điểm số

Ghi chú

1.

A

4,0


2.

B+

3,5


3.

B

3,0


4.

C+

2,5


5.

C

2,0


6.

D+

1,5


7.

D

1,0


8.

F

0,0


2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 02 (hai) chữ số thập phân:

Trong đó:

A: là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy;

ai: là điểm của học phần thứ i;

ni: là số tín chỉ của học phần thứ i;

n: là tổng số học phần.

3. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều này dùng để xét thôi học, xếp hạng học lực, xét làm khóa luận tốt nghiệp và xếp hạng tốt nghiệp.


Chương IV

XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 26. Khóa luận tốt nghiệp và thực tập cuối khóa.

1. Căn cứ vào kết quả học tập của sinh viên từng khóa học, Hội đồng xét tốt nghiệp đề nghị Hiệu trưởng quyết định về các điều kiện để sinh viên được làm khoá luận tốt nghiệp hoặc đi thực tập và thi cuối khóa.

2. Sinh viên có đủ điều kiện làm khóa luận tốt nghiệp nếu có nguyện vọng chuyển sang hình thức đi thực tập và thi cuối khóa thì làm đơn gửi Phòng Đào tạo.

3. Sinh viên đi thực tập tự liên hệ chỗ thực tập. Sau thời hạn được quy định, nếu sinh viên không thể tự liên hệ được chỗ thực tập thì nhà trường sẽ giới thiệu cho sinh viên danh sách các đơn vị có thể xin thực tập.

4. Phòng Đào tạo có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thực tập và công bố cho sinh viên biết trước khi bắt đầu thực tập chậm nhất là 04 (bốn) tuần.

5. Các Khoa có trách nhiệm xây dựng Chương trình thực tập của Khoa mình, trong đó nêu rõ các yêu cầu về nơi thực tập của sinh viên, giảng viên phụ trách thực tập, kế hoạch kiểm tra việc thực tập của sinh viên (nếu có) và các yêu cầu về Báo cáo kết quả thực tập của sinh viên. Chương trình thực tập này phải được gửi cho các đơn vị có liên quan để biết và giám sát việc thực tập của sinh viên.

6. Khóa luận tốt nghiệp hoặc thực tập và thi cuối khóa có khối lượng học tập không quá 07 (bảy) tín chỉ.

Điều 27. Thi cuối khóa.

1. Sinh viên tích luỹ đủ số tín chỉ quy định của khóa học, không bị xử lý kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên, được xếp hạng học lực bình thường và không còn học phần bị điểm F thì mới được dự thi cuối khóa.

2. Nội dung thi cuối khóa gồm 02 (hai) môn thuộc khối kiến thức chuyên ngành của Khoa mà sinh viên theo học.

3. Vào đầu học kỳ cuối của khoá học, Phòng Đào tạo công bố nội dung các học phần thi cuối khoá để sinh viên biết và tự ôn tập.

Điều 28. Chấm khoá luận tốt nghiệp, chấm thi cuối khóa.

1. Hiệu Trưởng (hoặc Trưởng Khoa được Hiệu trưởng ủy quyền) ra quyết định thành lập Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp, thành phần Hội đồng gồm chủ tịch, thư ký và 01 (một) ủy viên phản biện.

Thành viên hội đồng là giảng viên của trường hoặc có thể mời những người có chuyên môn phù hợp ở ngoài trường.

Điểm khóa luận tốt nghiệp là trung bình cộng các điểm của 03 (ba) thành viên hội đồng, quy tròn đến 0,5 (không phẩy năm).

2. Thi cuối khoá có thể được thực hiện theo hình thức thi viết (tự luận hoặc trắc nghiệm) hoặc vấn đáp. Thời gian thi viết tối đa là 120 phút cho mỗi học phần. Việc ra đề thi, coi thi, chấm thi theo hình thức thi viết được thực hiện theo quy định về kỳ thi kết thúc học phần hiện hành.

Thi vấn đáp cuối khóa chỉ được tổ chức khi có tối thiểu 04 (bốn) giảng viên tham gia hỏi thi và mỗi sinh viên dự thi phải có ít nhất 02 (hai) giảng viên tham gia hỏi thi. Trường hợp không thống nhất được điểm chấm thì 02 (hai) giảng viên chấm thi trình Tổ trưởng Tổ bộ môn quyết định.

3. Điểm khóa luận tốt nghiệp hoặc điểm thi cuối khóa theo hình thức vấn đáp phải được công bố cho sinh viên biết ngay sau mỗi buổi chấm khóa luận hoặc mỗi buổi thi. Điểm thi cuối khóa theo hình thức thi viết phải được công bố cho sinh viên biết chậm nhất là 10 (mười) ngày sau khi thi.

4. Điểm khóa luận tốt nghiệp và điểm thi cuối khóa được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học.

5. Sinh viên có điểm khóa luận tốt nghiệp hoặc điểm thi cuối khóa bị điểm F phải đăng ký thực tập và dự thi cuối khoá với khóa học sau.

Điều 29. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp.

1. Sinh viên có đủ các điều kiện sau thì được Hội đồng xét tốt nghiệp xét công nhận tốt nghiệp:

a. Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

b. Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên.

c. Có chứng chỉ Giáo dục quốc phòng, Giáo dục thể chất .v.v... .

2. Sau mỗi học kỳ, Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Hội đồng xét tốt nghiệp do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng Phòng Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các Trưởng Khoa chuyên ngành, Trưởng Phòng Công tác Chính trị - Sinh viên.

3. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Điều 30. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo và chuyển loại hình đào tạo.

1. Sinh viên đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Quy chế này sẽ được Hội đồng xét tốt nghiệp trình Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp. Hạng tốt nghiệp của sinh viên được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:

a) Loại xuất sắc: điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 3,60 đến 4,00;

b) Loại giỏi: điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 3,20 đến 3,59;

c) Loại khá: điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,50 đến 3,19;

d) Loại trung bình: điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 đến 2,49.

2. Hạng tốt nghiệp của sinh viên có kết quả học tập toàn khóa đạt loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một bậc, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a) Có số tín chỉ của các học phần phải học lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;

b) Đã bị kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.

3. Kết quả học tập của sinh viên phải được ghi vào bảng điểm theo từng học phần và trong bảng điểm phải ghi ngành đào tạo.

4. Sinh viên còn nợ chứng chỉ Giáo dục quốc phòng và Giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 05 (năm) năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về trường trả nợ để có đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp.

5. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp Giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình đào tạo của trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển qua hệ vừa làm vừa học theo quy định tại khoản 3 Điều 17 của Quy chế này.


Chương V

XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 31. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về kiểm tra và thi.

1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, thi kết thúc học phần, thi cuối khóa và làm khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.

2. Sinh viên thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập 01 (một) năm đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.

3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định tại Điều 32 của Quy chế này.

Điều 32. Các hình thức xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm quy định trong khi kiểm tra, thi.

Sinh viên vi phạm quy chế kiểm tra, thi đều phải bị lập biên bản và tùy theo mức độ nặng, nhẹ sẽ bị xử lý kỷ luật theo các hình thức sau đây:

1. Khiển trách: áp dụng đối với sinh viên phạm lỗi 01 (một) lần trong khi kiểm tra, thi: nhìn bài, trao đổi với người khác (hình thức này do cán bộ phụ trách buổi thi quyết định). Sinh viên bị khiển trách trong khi kiểm tra, thi học phần nào sẽ bị trừ 25% (hai mươi lăm phần trăm) số điểm kiểm tra, thi của học phần đó.

2. Cảnh cáo đối với các sinh viên vi phạm 01(một) trong các lỗi sau đây:

a. Đã bị khiển trách 01 (một) lần nhưng trong giờ kiểm tra, thi học phần đó vẫn tiếp tục vi phạm Quy chế.

b. Trao đổi bài làm hoặc giấy nháp cho người khác.

c. Chép bài của người khác. Những bài kiểm tra, thi đã có kết luận là giống nhau thì xử lý như nhau. Nếu người bị xử lý có đủ bằng chứng chứng minh mình bị quay cóp thì cán bộ coi thi có thể xem xét giảm từ mức kỷ luật cảnh cáo xuống mức khiển trách.

Người bị kỷ luật cảnh cáo trong khi kiểm tra, thi học phần nào sẽ bị trừ 50% (năm mươi phần trăm) số điểm kiểm tra, thi của học phần đó.

Hình thức kỷ luật cảnh cáo do cán bộ phụ trách buổi thi quyết định, lập biên bản, thu tang vật và ghi rõ hình thức kỷ luật trong biên bản.

Các Khoa căn cứ theo biên bản xử lý vi phạm để trừ điểm đối với bài thi của sinh viên vi phạm.

3. Đình chỉ kiểm tra, thi đối với sinh viên vi phạm một trong các lỗi sau đây:

a. Đã bị cảnh cáo 01 (một) lần nhưng trong giờ kiểm tra, thi học phần đó vẫn tiếp tục vi phạm Quy chế;

b. Mang tài liệu trái phép vào phòng thi; phương tiện kỹ thuật thu, phát, truyền tin, ghi âm, ghi hình, thiết bị chứa đựng thông tin có thể lợi dụng để làm bài thi; vũ khí, chất gây nổ, gây cháy, các vật dụng gây nguy hại khác;

c. Đưa đề kiểm tra, thi ra ngoài khu vực kiểm tra, thi hoặc nhận bài giải từ ngoài vào phòng thi;

d. Viết vẽ những nội dung không liên quan đến bài kiểm tra, bài thi;

đ. Có hành động gây gổ, đe dọa, xúc phạm cán bộ có trách nhiệm trong kỳ thi hay đe dọa sinh viên khác;

Hình thức đình chỉ kiểm tra, thi do giảng viên phụ trách học phần hoặc do cán bộ phụ trách buổi thi quyết định.

Việc xử lý kỷ luật phải được công bố cho sinh viên biết. Nếu sinh viên không ký tên vào biên bản thì giảng viên phụ trách học phần hoặc hai cán bộ coi thi ký và ghi rõ họ tên vào biên bản. Sinh viên bị kỷ luật đình chỉ thi trong khi kiểm tra, thi học phần nào sẽ bị điểm 0 (không) học phần đó; phải nộp bài làm và phải ra khỏi phòng thi ngay sau khi có quyết định của giảng viên phụ trách học phần hoặc của cán bộ phụ trách buổi thi.

Điều 33. Điều khoản thi hành.

1. Quy chế này được áp dụng từ khóa tuyển sinh đại học hệ chính quy năm 2009. Các khóa đào tạo trước đây được áp dụng theo các quy định hiện hành.

2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các đơn vị cần phản ánh kịp thời về Phòng Đào tạo để tổng hợp trình Hiệu trưởng xem xét, quyết định.

.                                                                                                                                     HIỆU TRƯỞNG

Ngày cập nhật (Thứ năm, 17 2 2011 16:34)

 
Chế độ hiển thị tốt nhất: 1024 x 800  với MoZilla Firefox