DANH MỤC
THÔNG TIN KHÁC
Nhà sách Online
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG CÁC TRƯỜNG

ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Quốc Vinh*

 

Mở rộng dân chủ Xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của Cách mạng, của công cuộc đổi mới. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở là khâu quan trọng và cấp bách trước mắt, vì vậy Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 30CT/TW ngày 18/2/ 1998 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị nói rõ “Nhà nước cần ban hành quy chế dân chủ ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện. Quy chế dân chủ cần được xây dựng cho từng loại cơ sở, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu, cơ quan hành chính… phù hợp với từng loại cơ sở”.

Ngay sau đó, Chính phủ đã ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở Xã (Nghị định số 29/1998 NĐ-CP ngày 11-5-1998), Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan (Nghị định số 71/1998 NĐ – CP ngày 8/9/1998) và Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước (Nghị định số 07/1999 NĐ-CP ngày 13/2/1999). Qua 3 năm tổ chức thực hiện, căn cứ vào Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18/3/2002 Hội nghị trung ương năm (khóa IX) về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002 khẳng định tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 (thay thế Nghị định số 29/1998/NĐ-CP). Đến năm 2007, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã được ban hành thay thế cho Nghị định số 79/2003/NĐ-CP.

Các Bộ, Ngành ở trung ương cũng đã ban hành các quy chế như: Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của bệnh viện (Bộ Y tế, ngày 12/11/1999); Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của các cơ quan khoa học và công nghệ (Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường ngày 30/12/1999); Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường (Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 1/3/2000).

I. Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường

Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD-ĐT ngày 01/3/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường. Quy chế này qui định những nội dung liên quan đến việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường và các cơ sở giáo dục công lập, thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (sau đây gọi chung là nhà trường). Mục đích việc thực hiện dân chủ trong nhà trường được ghi rõ ngay ở Điều 1 của Quy chế là:

Một là, thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất những điều Luật Giáo dục quy định theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" trong các hoạt động của nhà trường thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chức được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, làm cho sự nghiệp giáo dục thực sự là của dân, do dân và vì dân.

Hai là, thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ, công chức trong nhà trường nhà trường theo luật định, góp phần xây dựng nề nếp, trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và luật pháp của nhà nước.

Cũng như các quy chế dân chủ ở các cơ sở khác, quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường là loại văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành, có hiệu lực bắt buộc ở cơ sở các nhà trường, là công cụ chỉ dẫn, đồng thời là cơ sở pháp lý để giám sát, kiểm tra đối với những người thuộc quyền. Thực hiện dân chủ chính là sự tập hợp trí tuệ của đội ngũ cán bộ, giảng viên, người học để thống nhất trong hoạt động, nâng cao chất lượng giáo dục.

II. Thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường ở các trường đại học và cao đẳng tại Tp. Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có nhiều trường đại học và cao đẳng nhất trong cả nước. Tính đến tháng 9 năm 2009, cả nước có 376 trường đại học và cao đẳng (150 trường đại học và 226 trường cao đẳng), trong đó 81 trường ngoài công lập (44 trường đại học và 37 trường cao đẳng). Tại Tp. Hồ Chí Minh có 76 trường đại học và cao đẳng, trong đó 47 trường đại học (35 trường công lập và 12 trường ngoài công lập) và 29 trường cao đẳng (19 trường công lập và 10 trường ngoài công lập).

Theo qui luật phát triển, nơi nào trình độ dân trí cao thì việc thực hiện dân chủ diễn ra như một quá trình tự nhiên, tất yếu. Nó không chỉ là mục tiêu mà còn là phương pháp, là công cụ không thể thiếu để tiếp tục phát triển.

Các trường đại học và cao đẳng là một trong những nơi tập trung chất xám, trí tuệ của xã hội, vì vậy dân chủ cần phải phải được biểu hiện rõ ràng trong mọi hoạt động của nhà trường, từ hoạt động xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, xây dựng cơ sở vật chất, chương trình đào tạo cho đến tổ chức quản lý, hợp tác đào tạo, xây dựng môi trường văn hóa học đường... Chỉ như vậy mới huy động và phát huy năng lực, trí tuệ, sức mạnh của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội vào sự phát triển của nhà trường.

Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường đã được các trường đại học và cao đẳng ở Tp. Hồ Chí Minh triển khai thực hiện từ sau khi được ban hành và do Hiệu trưởng trực tiếp chỉ đạo. Thực hiện dân chủ cơ sở gắn liền với nhiệm vụ chính trị của nhà trường, kết hợp với việc củng cố, kiện toàn tổ chức, đặc biệt là công tác cán bộ, xây dựng tổ chức trong sạch, vững mạnh.

Chúng tôi tìm hiểu tình hình thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường ở các trường đại học và cao đẳng tại Tp. Hồ Chí Minh vào thời điểm cuối năm 2009, tức 9 năm sau khi Quy chế được ban hành, tại 19 trường đại học và cao đẳng (12 trường đại học và 7 trường cao đẳng; trong đó có 11 trường công lập và 8 trường ngoài công lập) với phương pháp định lượng qua điều tra xã hội học. Ở từng trường, chúng tôi thu nhận được ý kiến trả lời bảng hỏi của giảng viên, cán bộ công chức và người học về tình hình thực hiện các qui định của Quy chế dân chủ cơ sở trong hoạt động của nhà trường. Cụ thể như sau:

Một là, dân chủ trong việc “biết”, “bàn” của cán bộ, giảng viên, nhân viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.

Vấn đề đầu tiên trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở chính là “dân biết”,  “dân” trong các trường cao đẳng, đại học chính là đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên và sinh viên nhà trường.

Tại mục 2 Điều 7 Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD & ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 01/3/2000 quy định rõ những việc nhà giáo, cán bộ, công chức được biết, tham gia ý kiến, giám sát kiểm tra thông qua hình thức dân chủ trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường như:

1. Những chủ trương, chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước đối với nhà giáo, cán bộ, công chức.

2. Những quy định về sử dụng tài sản, xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường.

3. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo.

4. Công khai các khoản đóng góp của người học, việc sử dụng kinh phí và chấp hành chế độ thu, chi, quyết toán theo quy định hiện hành.

5. Giải quyết các chế độ, quyền lợi, đời sống vật chất, tinh thần cho nhà giáo, cán bộ, công chức, cho người học.

6. Việc thực hiện thi tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, nâng bậc lương, thuyên chuyển, điều động, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật.

7. Những vấn đề về tuyển sinh và thực hiện quy chế thi từng năm học.

8. Báo cáo sơ kết, tổng kết, nhận xét, đánh giá công chức hàng năm.

Như vậy có 8 vấn đề chính mà nhà giáo, cán bộ, công chức được biết, tham gia ý kiến và giám sát kiểm tra. Tuy nhiên, kết quả khảo sát ở 11 trường công lập và 8 trường ngoài công lập cho thấy chỉ có 3 trường công lập có trên 45% (nhưng dưới 50%) số người được hỏi trả lời rằng họ biết rõ các thông tin liên quan đến chế độ công khai tài chính, có 2 trường công lập con số này từ dưới 10%, các trường công lập còn lại nằm trong khoảng 30%. Ở khối trường ngoài công lập, vấn đề này được cải thiện. Có trường đạt trên 50%, còn lại vào khoảng 30% - 40%, cá biệt có trường dưới 20%. Đa số những người được hỏi vẫn cho rằng họ không biết rõ các thông tin về công khai tài chính, dẫn đến trên thực tế một số quyền lợi, chế độ, chính sách của cán bộ, công nhân viên chưa được đảm bảo.

Theo nguyên tắc “tập trung dân chủ” mọi nội dung liên quan đến nghĩa vụ cũng như quyền lợi của cán bộ, giảng viên, nhân viên, sinh viên đều nên đưa ra bàn bạc để đi đến thống nhất. Kết quả thống kê cho thấy, mức độ tham gia ý kiến của các giảng viên trong tất cả các vấn đề không có nhiều khác biệt giữa trường công lập và trường ngoài công lập.

Tỉ lệ giảng viên không bao giờ tham gia ý kiến trong tất cả các vấn đề là khá lớn, cụ thể như sau:

- Kế hoạch tuyển sinh, dạy học, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của nhà trường trong năm học có: 32%.

- Quy trình quản lý đào tạo, những vấn đề về chức năng nhiệm vụ của các tổ chức bộ máy trong nhà trường: 38,7%.

- Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo, cán bộ công chức: 35,6%.

- Kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường, các hoạt động dịch vụ, sản xuất của nhà trường: 77,8%.

- Các biện pháp tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng hàng năm, lề lối làm việc, xây dựng nội quy, quy chế trong nhà trường: 35%.

- Các báo cáo sơ kết, tổng kết theo định kì trong năm học:30%.

Tỉ lệ giảng viên tham gia ý kiến với mức độ "thỉnh thoảng":

- Kế hoạch tuyển sinh, dạy học, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác của nhà trường trong năm học: 54,2%.

- Quy trình quản lý đào tạo, những vấn đề về chức năng nhiệm vụ của các tổ chức bộ máy trong nhà trường: 49,4%.

- Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo, cán bộ công chức: 49,4%.

- Các biện pháp tổ chức phong trào thi đua, khen thưởng hàng năm, lề lối làm việc, xây dựng nội quy, quy chế trong nhà trường: 51,9%.

- Các báo cáo sơ kết, tổng kết theo định kì trong năm học: 42,9%.

Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các trường đại học, cao đẳng diễn ra dưới những hình thức khác nhau: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.  Số liệu khảo sát cho thấy đa số các ý kiến lựa chọn hình thức tham gia góp ý vào hoạt động của nhà trường là họp toàn thể cán bộ, công chức lấy ý kiến (100%) và họp theo các tổ chức đoàn thể lấy ý kiến (66,7%).

Hai là, dân chủ trong việc “làm” và “kiểm tra” của cán bộ, giảng viên, nhân viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh

Từ tháng 5/2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế thực hiện 3 công khai đối với các cơ sở giáo dục. Các nội dung của 3 công khai phải được công bố ở Website của mỗi trường, ở các khoa, thư viện để mọi người dễ tiếp cận, tạo sự giám sát của xã hội về chất lượng cũng như mọi hoạt động của nhà trường và là động lực cho việc nâng cao chất lượng đào tạo. Rõ ràng thực hiện dân chủ trong nhà trường nhằm phát huy quyền làm chủ và huy động tiềm năng trí tuệ của hiệu trưởng, nhà giáo, người học, đội ngũ cán bộ, công chức; ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng nề nếp, trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà trường, thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Ở tất cả các trường đại học, cao đẳng đều có Ban thanh tra giáo dục và Ban thanh tra nhân dân, trong đó, Ban thanh tra nhân dân có trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra việc thực hiện quy chế dân chủ, có trách nhiệm lắng nghe ý kiến của quần chúng, phát hiện những vi phạm quy chế dân chủ trong nhà trường để đề nghị hiệu trưởng giải quyết. Hiệu trưởng không giải quyết được thì báo cáo lên cấp có thẩm quyền trong ngành theo phân cấp quản lý để xin ý kiến chỉ đạo giải quyết. Tuy nhiên, thành viên của Ban thanh tra nhân dân thường là kiêm nhiệm, do đó chỉ khi nào có vấn đề nổi cộm xảy ra mới hoạt động, chính vì vậy Ban thanh tra nhân dân chưa thực sự phát huy được vai trò của mình trong hoạt động của nhà trường.

Trách nhiệm và quyền hạn của nhà giáo, cán bộ, công chức được quy định một cách cụ thể trong Luật Giáo dục, ngay tại Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD & ĐT cũng chỉ rõ 8 vấn đề mà nhà giáo, cán bộ, công chức được biết, tham gia ý kiến và kiểm tra, giám sát. Điều 13 Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở trong nhà trường quy định trách nhiệm của các đoàn thể, các tổ chức trong nhà trường (dân chủ đại diện), trong đó quy định người đứng đầu các đoàn thể, các tổ chức trong nhà trường là người đại diện cho đoàn thể, tổ chức đó có trách nhiệm: Phối hợp với nhà trường trong việc tổ chức, thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường. Các tổ chức, đoàn thể tham gia đóng góp ý kiến cho các hoạt động của nhà trường, phát huy vai trò làm chủ của cán bộ, giảng viên, nhân viên, tạo môi trường học tập trong sáng, lành mạnh cho sinh viên. Phối hợp với Đảng ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể phát động các hoạt động phong trào gắn liền với những nội dung xác định. Tuy nhiên trên thực tế, các tổ chức này hoàn toàn bị động vì sử dụng kinh phí của nhà trường; phần lớn là thực hiện theo sự phân công của nhà trường. Theo kết quả khảo sát chúng tôi nhận thấy công tác giám sát, kiểm tra trực tiếp và gián tiếp thông qua các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện các vấn đề, đa số giảng viên được tham gia ở "mức độ thỉnh thoảng", cụ thể như sau:

-         Những chủ trương, chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước đối với nhà giáo, cán bộ, công chức: 50%.

-         Những quy định về sử dụng tài sản, xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường: 52,4%.

-         Giải quyết các chế độ, quyền lợi, đời sống vật chất, tinh thần cho nhà giáo, cán bộ công chức, cho người học: 55,6%.

-         Việc thực hiện thi tuyển dụng, nâng ngạch công chức, nâng bậc lương, thuyên chuyển, điều động, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật: 40%.

-         Những vấn đề tuyển sinh và thực hiện quy chế thi từng năm học: 50%.

-         Báo cáo sơ kết, tổng kết, nhận xét, đánh giá công chức hàng năm: 40%.

Số liệu thống kê cho thấy, tỷ lệ khá lớn giáo viên không bao giờ tham gia ý kiến đối với hai vấn đề:

‒      Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo: 70%.

‒      Công khai các khoản đóng góp của người học, việc sử dụng kinh phí và chấp hành chế độ thu chi, quyết toán theo quy định hiện hành: 60%.

Điều 11 Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD & ĐT quy định trách nhiệm của nhà trường – đó cũng là những nội dung cán bộ, giảng viên, nhân viên, sinh viên được kiểm tra. Kiểm tra là khâu cuối cùng của phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” nhưng là khâu không thể thiếu nhằm đảm bảo cho tổ chức vận hành trong quỹ đạo của những nguyên tắc đã được quy định, đề cao giá trị dân chủ, đảm bảo nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là công cụ, phương thức thực thi dân chủ. Muốn kiểm tra được, tối thiểu cán bộ, giảng viên, nhân viên, sinh viên phải có quyền được thông tin về mục tiêu đào tạo, chương trình và quy trình đào tạo, kế hoạch tuyển sinh, các nội quy, quy chế của nhà trường; về các thông báo công khai các chế độ, chính sách đối với nhà giáo, cán bộ công chức và người học; về các chế độ đối với người học như: chế độ đóng học phí, chế độ miễn giảm học phí, chế độ trợ cấp xã hội, chế độ ưu tiên con em gia đình diện chính sách có công với cách mạng, các chế độ được ở kí túc xá… Ngoài ra, nhà trường phải đặt hòm thư góp ý hoặc có các hình thức góp ý khác để cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong nhà trường thuận lợi trong việc góp ý kiến.

Hiện nay, ở nhiều trường có hòm thư góp ý nhưng rất hình thức, chỉ là làm cho có, chẳng có ý nghĩa, tác dụng gì nhiều. Tâm lý người góp ý e ngại sẽ chẳng ai giải quyết. Hình thức góp ý trực tiếp với người có thẩm quyền giải quyết cũng không có tác dụng nhiều lắm, xuất phát từ tâm lý lo ngại hoặc sợ bị trù dập. Việc giải đáp các ý kiến và giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo theo luật định cũng chưa được quan tâm đúng mức. Định kỳ mỗi năm ít nhất một lần nhà trường gặp gỡ đại diện của người học để nghe và trao đổi giải quyết những vấn đề về giảng dạy, học tập, rèn luyện, chế độ, chính sách, về đời sống vật chất, tinh thần và những vấn đề khác trong nhà trường. Tất cả những nội dung này được quy định cụ thể, rõ ràng trong Quyết định số 04/2000/QĐ-BGD & ĐT nhưng việc tổ chức thực hiện còn khá hình thức. Một số kiến nghị được nêu ra, lãnh đạo cũng có hứa hẹn giải quyết nhưng thời gian cứ trôi qua và sự việc vẫn không được giải quyết. Vấn đề đặt ra là ai kiểm tra? Kiểm tra ai? Kiểm tra cái gì? Nếu phát hiện sai phạm có dám đấu tranh không? Điều này có nghĩa là chúng ta đang đề cập năng lực kiểm tra, nội dung kiểm tra, phương pháp kiểm tra để đảm bảo cho công dân, cơ quan, tổ chức được quyền giám sát, kiểm tra, đóng góp ý kiến tham gia xây dựng sự nghiệp giáo dục, làm cho giáo dục thật sự là của dân, do dân và vì dân.

Trong phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thì kiểm tra là khâu yếu nhất. Thực tế kiểm tra, giám sát của người học, của cán bộ, giảng viên chỉ phát huy tác dụng trong phạm vi những chương trình, chế độ, chính sách liên quan trực tiếp, thiết thực đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. Hoạt động của ban thanh tra nhân dân chưa phát huy. Thực thi dân chủ hiện nay chưa phát huy hết hiệu lực. Chất lượng dân chủ đại diện còn thấp, vai trò các đoàn thể chưa rõ nét, đa số chạy theo phong trào.

Tư duy dân chủ và phương thức lãnh đạo thực thi dân chủ trong điều kiện hiện nay còn nhiều lúng túng, thiếu kiên quyết, thiếu biện pháp cụ thể, khả thi. Kết quả thực hiện dân chủ ở cơ sở mới là bước đầu và chưa đồng đều ở các trường, các khâu. Nhận thức về thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường từ người học, cán bộ, giảng viên cũng như từ phía lãnh đạo mặc dù có nhiều chuyển biến nhưng chưa thật sâu sắc, đầy đủ, đồng bộ. Do đó, giữa Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở và yêu cầu thực tế của quá trình dân chủ hóa vẫn còn khoảng cách lớn. Vì vậy, chưa huy động sức mạnh trí tuệ phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tiếp tục thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường đạt chất lượng và toàn diện là yêu cầu bức thiết đối với tất cả các trường đại học và cao đẳng ở Tp. Hồ Chí Minh hiện nay. Chỉ có thực hiện thật đầy đủ Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường mới làm cho các trường thực sự vững mạnh, đủ sức làm tròn sứ mạng vẻ vang đối với đất nước.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



* TS. Trưởng khoa Khoa học cơ bản, trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 
Chế độ hiển thị tốt nhất: 1024 x 800  với MoZilla Firefox