DANH MỤC
THÔNG TIN KHÁC
Weblink

 

 

Bàn về hợp đồng vô hiệu...

TẠP CHÍ KHPL SỐ 4(41)/2007

Bàn về hợp đồng vô hiệu do được giao kết bởi người bị mất

năng lực hành vi dân sự qua một vụ án

ĐỖ VĂN ĐẠI*

* TS. luật học, Giảng viên Trường đại học Paris 13 (CH Pháp)

Đặt vấn đề

Theo Điều 122 BLDS năm 2005, một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực là “người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự” và, theo Điều 127, “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”. Như vậy, khi giao dịch được thiết lập bởi một người chưa đủ năng lực hành vi dân sự thì không có giá trị pháp lý.

BLDS quy định một số trường hợp chủ thể giao kết không “có năng lực hành vi dân sự” và một trong những trường hợp này là “mất năng lực hành vi dân sự”. Liên quan đến xác lập giao dịch, BLDS quy định rằng “giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện” (khoản 2 Điều 22). Về chế tài, theo Điều 130 BLDS, “khi giao dịch dân sự do người mất năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện”.

Trong thực tế pháp lý, rất hiếm thấy tranh chấp về giao dịch được thiết lập bởi một người mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, bản án của Tòa án huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái công bố sau đây rất đáng được quan tâm. Sự việc trong tranh chấp được thiết lập trước ngày BLDS năm 2005 có hiệu lực nhưng Tòa án áp dụng BLDS này để giải quyết. Ở đây, chúng tôi không đi vào phân tích khía cạnh này mà chỉ tập trung phân tích ba vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, xác định một người bị mất năng lực hành vi dân sự (I). Thứ hai, yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu khi giao dịch này được thiết lập bởi một người mất năng lực hành vi dân sự (II) và thứ ba là hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu (III).

I. Xác định một người bị mất năng lực hành vi dân sự khi giao kết hợp đồng

Khó khăn. Để hiểu rõ, tôi xin nêu lại sự việc như sau: ông Cường là người sử dụng không có quyền định đoạt diện tích 288 m2 đất (do mẹ ông để lại nhưng việc chia di sản chưa được thực hiện). Ngày 20/01/2004 ông Cường và bà Bính (vợ ông Cường) ký giấy chuyển nhượng cho anh Thăng (con riêng của bà Bính) diện tích đất trên. Ngày 13/6/2005, Tòa án huyện xử bà Bính ly hôn với ông Cường. Sau đó, anh Hưng (con riêng ông Cường) đón ông Cường về nuôi dưỡng và phát hiện ông Cường có biểu hiện của người bị tâm thần nên đã yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Theo Điều 22 BLDS, “khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” thì được coi là “mất năng lực hành vi dân sự”. Tuy nhiên, khái niệm này còn khá trừu tượng. Khi nào một người được coi là “bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình”? Thiết nghĩ, việc một người mất năng lực hành vi dân sự không phụ thuộc vào tuổi của họ. Bởi lẽ một người cao tuổi hoàn toàn có thể có tinh thần minh mẫn trong khi đó một người trẻ lại có thể mất khả năng tư duy, nhận thức. Do đó, tuổi cao không là yếu tố đầy đủ để khẳng định một người mất năng lực hành vi dân sự.

Cũng tương tự, sự thay đổi theo hướng xấu của cơ thể cũng không đủ để khẳng định một người mất khả năng tư duy, nhận thức. Chẳng hạn, một người bị tai nạn gẫy chân, gẫy tay sau khi nằm viện hoàn toàn có thể minh mẫn, làm chủ được hành vi của mình. Trong thực tế hiện nay có không ít người lâm vào tình trạng trầm cảm nhưng điều đó cũng không đủ để chứng minh việc mất năng lực hành vi dân sự. Quay lại vụ việc đang nghiên cứu, ông Cường có thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hay không?

Đánh giá. Trong quá trình giải quyết các bên có đưa ra các giấy tờ, tài liệu và lời xác nhận của một số người làm chứng nhằm chứng minh ông Cường có bị tâm thần hay không. Tuy nhiên các giấy tờ và lời làm chứng về cơ bản đều thiếu khách quan, không dựa trên cơ sở khoa học mà chủ yếu xuất phát từ những cảm nhận chủ quan. Mặt khác, trong giấy trả nhận tiền đề ngày 20/01/2004 có chữ ký xác nhận của ông Hành là trưởng thôn. Nhưng giấy tờ này có sự sai lệch, thể hiện sự không trung thực. Ở đây, cần nói thêm là việc giao dịch có công chứng, chứng thực không loại trừ trường hợp mất năng lực hành vi dân sự. Bởi lẽ, người đứng ra chứng thực, công chứng không là người đảm bảo tính hoàn thiện của sự ưng thuận.

Theo đề nghị của anh Hưng, Tòa án đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần với ông Cường. Tại Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005, Tổ chức giám định pháp y tỉnh đã kết luận ông Cường bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu”. Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 01/01/2004 với biểu hiện của căn bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi của mình. Trên cơ sở kết luận giám định này, Tòa án đã cho rằng “ông Cường được coi là người mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004”.

Thiết nghĩ, cách đánh giá của Tòa án như trên là hợp lý. Bởi lẽ, theo Điều 22 BLDS, “Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”.

Thời điểm. Theo Điều 22 BLDS, “khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”. “Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”. Như vậy, khi một người mất năng lực hành vi dân sự thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố mất hành vi năng lực dân sự và giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Ở đây, BLDS chưa quy định rõ ràng về thời điểm bắt đầu mà giao dịch dân sự phải thực hiện qua người đại diện. Thời điểm này là thời điểm mất năng lực hành vi dân sự thực sự hay là thời điểm Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự? Câu trả lời là rất quan trọng vì nó kéo theo hệ quả pháp lý khác nhau.

Trong ví dụ, giao dịch được thiết lập ngày 20/01/2004 nhưng giấy xác nhận giám định là ngày 15/12/2005 trong khi đó ông Cường được coi là người mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004. Điều đó có nghĩa là thời điểm Tòa án tuyên bố ông Cường mất năng lực hành vi dân sự là sau khi giao dịch được thiết lập nhưng thực tế ông Cường đã lâm vào tình trạng này trước khi giao dịch được thiết lập. Nếu lấy thời điểm người liên quan thực sự mất năng lực hành vi dân sự làm mốc thì mọi giao dịch được thiết lập từ thời điểm đó đều có thể bị tuyên bố vô hiệu. Còn nếu lấy thời điểm Tòa án tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự làm mốc thì chỉ những giao dịch được thiết lập sau thời điểm này mà không có sự đại diện mới có thể bị tuyên bố vô hiệu; những giao dịch trước đó không bị ảnh hưởng mặc dù được thiết lập khi người đó đã bị mất năng lực hành vi dân sự.

Thiết nghĩ nên lấy ngày cá nhân liên quan thực sự mất năng lực hành vi dân sự làm mốc nhằm bảo vệ quyền lợi cho những người này. Trong vụ tranh chấp, Tòa án cũng theo hướng này, do đó thiết nghĩ đây là giải pháp hợp lý, cần phát triển.

II. Tuyên bố hợp đồng vô hiệu do người mất năng lực hành vi dân sự xác lập

Tòa án. Khi hợp đồng vô hiệu, các bên có thể tự giải quyết với nhau bằng cách thỏa thuận không tiếp tục hợp đồng. Trong thực tế, khi một trong những điều kiện để hợp đồng có hiệu lực không được hội đủ, không hiếm trường hợp các bên đã cùng nhau tự bỏ và không tiếp tục hợp đồng. Nếu không cùng nhau tự giải quyết được thì một bên có quyền đơn phương không tiếp tục và vấn đề đặt ra là họ phải làm những thủ tục gì. Ở một số nước như Đức, Anh, Hà Lan, một bên có thể gửi thông báo cho bên kia để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Ở đây, bên yêu cầu hủy hợp đồng không có nghĩa vụ kiện ra Tòa. Nhưng ở một số nước khác như Bỉ, Pháp, Luých-xăm-bua, Ý, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, bên muốn bỏ hợp đồng phải gửi đơn yêu cầu sự can thiệp của Tòa án[1]. Pháp luật Việt Nam dường như theo xu hướng thứ hai này. Bởi lẽ, Điều 136 BLDS nhắc đi nhắc lại đến ba lần cụm từ “Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”. Như vậy, ở nước ta Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Về vấn đề thẩm quyền của Tòa án, chúng tôi có hai nhận xét sau: Thứ nhất, một bên không được tự mình tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Thứ hai, Tòa án không phải là cơ quan tài phán duy nhất để tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Khi các bên đưa tranh chấp ra Trọng tài một cách hợp pháp thì Trọng tài cũng có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Thời hiệu. Vì tuyên bố hợp đồng vô hiệu phải do Tòa án giải quyết nên vấn đề thời hiệu khởi kiện được đặt ra.

Theo khoản 2 Điều 136 BLDS năm 2005, “đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế”. Như vậy, trong trường hợp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, thời hiệu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không bị hạn chế, và, theo một số nhà bình luận, “đây là trường hợp bị coi là vô hiệu tuyệt đối”[2]. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 136 BLDS quy định “thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập”. Điều đó có nghĩa là đối với giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 130), giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 131), giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 132), giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 133) và giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 134), việc yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là có giới hạn. Từ đó, chúng ta thấy, đối với hợp đồng do một người mất năng lực hành vi dân sự thiết lập, thời hiệu là hai năm (trước đây là một năm), kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.

Quay lại vụ tranh chấp trên, liên quan đến thời hiệu khởi kiện, Tòa án cho rằng “đến ngày 10/08/2005, anh Hưng là con trai của ông Cường và bà Chế (đã ly hôn năm 1979) mới đăng ký việc giám hộ cho ông Cường tại UBND xã. Do đó tính đến ngày 10/8/2005, ông Cường mới có người giám hộ - đại diện hợp pháp. Căn cứ theo khoản 2 Điều 161, thì thời điểm khởi kiện vụ án được tính từ thời điểm ông Cường có người giám hộ đại diện theo quy định tại Điều 58 và 67 BLDS (từ ngày 10/8/2005) chứ không phải là ngày giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 136 BLDS”. Tôi ủng hộ hướng không tính khoảng thời gian chưa có giám hộ để đẩy lùi ngày cuối cùng của thời hiệu. Nhưng, theo tôi, thời hiệu khởi kiện ở đây bắt đầu không phải được tính từ thời điểm ông Cường có người giám hộ đại diện mà là ngày hợp đồng được xác lập (tức ngày 20/01/2004). Tuy nhiên khoảng thời gian từ ngày 20/01/2004 đến ngày ông Cường có người giám hộ đại diện sẽ không được tính vào thời hiệu. Bởi theo Điều 161 BLDS, “thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự”.

Tuyên bố vô hiệu. Phần trình bày trên cho thấy, khi giao kết hợp đồng ông Cường mất năng lực hành vi dân sự và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu vẫn còn. Do đó, Tòa án hoàn toàn có thể tuyên bố hợp đồng vô hiệu khi người đại diện theo pháp luật yêu cầu. Thực tế, Tòa án cũng làm như vậy. Bởi theo Tòa án, “như các phân tích đã nêu trên, cho thấy anh Thăng đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Cường là người mất năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự. Và bà Bính là người không có quyền định đoạt, xử lý tài sản là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng mà không có sự tham gia của người đại diện cho ông Cường. Vì vậy đã làm phát sinh một hợp đồng với các giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ do vi phạm quy định tại Điều 133 BLDS. Vì vậy, cần căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 137 BLDS để hủy hợp đồng chuyển nhượng nêu trên”.

Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp Tòa án quyết định “hủy” hợp đồng bị coi là vô hiệu. Bản án đang nghiên cứu cũng theo hướng này vì trong phần Quyết định chúng ta thấy Tòa án “xử hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Cường và bà Bính với anh Thăng”. Cách viết án này theo Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao là không chính xác. Ví dụ, liên quan đến một hợp đồng kinh tế, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng một số quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và quyết định “hủy hợp đồng (...) vì hợp đồng vô hiệu toàn bộ”. Theo Tòa kinh tế, “nội dung của quyết định nêu trên không chính xác, vì các điều luật mà cấp sơ thẩm viện dẫn chỉ hướng dẫn thế nào là hợp đồng kinh tế bị vô hiệu, quy định những điều kiện cần và đủ để xác định một hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu (không có điều luật nào hướng dẫn khi hợp đồng kinh tế vô hiệu thì tuyên hủy bỏ). Trong trường hợp cụ thể này, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cần viện dẫn các điều luật nói trên để tuyên bố: hợp đồng kinh tế số (...) bị vô hiệu toàn bộ là đủ và chính xác”[3].

Thiết nghĩ nhận xét trên của Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao là hoàn toàn chính xác và có thể vận dụng vào các loại hợp đồng khác như là đối với vụ việc đang phân tích. Với cách viết án “hủy hợp đồng” như vậy, đôi khi chúng ta không phân biệt rõ chế tài này với chế tài “hủy” hợp đồng do có vi phạm trong quá trình thực hiện. Ở đây, thuật ngữ mà BLDS sử dụng khi hợp đồng vô hiệu là “tuyên bố hợp đồng vô hiệu” chứ không quy định là Tòa án “hủy hợp đồng vô hiệu”. Để tôn trọng đúng tinh thần của BLDS cũng như để không nhầm lẫn với chế tài khi có vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng, thuật ngữ chính xác không phải là “hủy hợp đồng” mà là “tuyên bố hợp đồng vô hiệu” với những hậu quả của nó.

III. Hậu quả của hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do người mất năng lực hành vi dân sự xác lập

Chấm dứt. Theo Điều 137 BLDS, “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập”. Về nguyên tắc BLDS năm 2005 và BLDS năm 1995 không có thay đổi về hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu, bởi theo Điều 146 BLDS năm 1995, “giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên từ thời điểm xác lập”. Như vậy, khi giao dịch dân sự vô hiệu quyền và nghĩa vụ của mỗi bên không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nếu hợp đồng mới xác lập chưa thực hiện thì các bên không thực hiện, còn trong trường hợp đang thực hiện thì không tiếp tục thực hiện nữa. Tuy nhiên, trong vụ việc đang nghiên cứu, hợp đồng đã được thực hiện. Do đó, cần phải hoàn trả lại tài sản đã nhận.

Hoàn trả lại tài sản. Vẫn theo Điều 137 BLDS, “khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”. Về nguyên tắc, BLDS năm 2005 và BLDS năm 1995 không có thay đổi.

Bên nhận tài sản phải có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đã nhận. Về vấn đề này, theo Tòa án, “căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 137 BLDS để hủy hợp đồng chuyển nhượng nêu trên và xử buộc anh Thăng trả lại 288 m2 cho ông Cường và người đại diện là anh Hưng”. Quyết định này là chính xác bởi hợp đồng nêu diện tích chuyển nhượng là 288 m2. Do vậy, bên mua phải hoàn trả lại tài sản đã nhận.

Bên nhận tiền phải hoàn trả lại tiền đã nhận. Ở đây, bên nhận tiền là người bán nên người bán phải hoàn trả lại tiền đã nhận. Tuy nhiên, người bán là ông Cường, bà Bích, nhưng tại thời điểm hoàn trả, hai người này đã ly hôn. Theo Tòa án, bên nhận tiền là vợ chồng nhưng tại thời điểm phải hoàn trả họ đã ly hôn thì mỗi người phải chịu thanh toán một nửa. Thiết nghĩ, giải pháp này là hợp lý.

Khôi phục tình trạng ban đầu. Theo BLDS, “khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”. Nhìn chung khái niệm “khôi phục lại tình trạng ban đầu” và “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận” là giống nhau. Nhưng phân tích kỹ thì đây là hai phạm trù khác nhau. Hoàn trả cho nhau những gì đã nhận chỉ là một hoàn cảnh của việc khôi phục lại tình trạng ban đầu. Đôi khi hoàn trả cho nhau những gì đã nhận không đủ để khôi phục lại tình trạng ban đầu. Trong một số trường hợp, trước khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, một bên đã khai thác, xây dựng bổ sung trên tài sản có tranh chấp. Trong trường hợp này khôi phục lại tình trạng ban đầu như thế nào?

Áp dụng nguyên tắc “khôi phục tình trạng ban đầu”, chúng ta dường như phải buộc bên xây dựng bổ sung tháo bỏ tài sản này. Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp được Tòa án áp dụng trong vụ việc đang nghiên cứu. Cụ thể, theo Tòa án, “trong quá trình sử dụng đất anh Thăng đã đầu tư xây dựng các công trình gồm xây kè bờ ao, láng nền nhà, nền sân, xây và láng nền chuồng lợn và thuê người dựng nhà trên đất. Tại phiên tòa, anh Thăng tính toán tổng chi phí là 17.450.000 đồng. Và yêu cầu ông Cường phải thanh toán lại cho anh các chi phí này nếu anh phải trả lại đất. Xét việc anh Thăng yêu cầu như trên là hoàn toàn phù hợp, cần được chấp nhận vì việc anh đầu tư xây dựng các công trình này đã làm tăng giá trị quyền sử dụng đất”.

Giải pháp của Tòa án dường như trái với nguyên tắc “khôi phục tình trạng ban đầu”. Nhưng thiết nghĩ giải pháp này không ít tính thuyết phục. Những tài sản bổ sung gắn liền với tài sản phải hoàn trả và làm tăng giá trị tài sản này do đó không nên buộc phải tháo bỏ khi có thể.

Bồi thường thiệt hại. Khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, theo Điều 137 BLDS, “bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”. Đây không phải là điều mới của BLDS năm 2005 vì nguyên tắc này cũng đã tồn tại trong BLDS năm 1995. BLDS quy định vấn đề bồi thường thiệt hại trong phần “hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu”. Cách điều chỉnh “nhân tiện”, “làm cho xong” này là không thuyết phục. Với cách quy định như vậy, chúng ta có thể nghĩ rằng vấn đề bồi thường chỉ có thể xuất hiện khi hợp đồng vô hiệu. Trong thực tế, vấn đề bồi thường thiệt hại hoàn toàn có thể được giải quyết trong khi đó hợp đồng không bị tuyên bố vô hiệu.

Theo BLDS, “bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”. Như vậy, để buộc một bên bồi thường thì chúng ta phải xác định họ có lỗi và thực tế phải tồn tại thiệt hại. Về hai vấn đề này, bản án không thực sự rõ ràng. Cụ thể, liên quan đến thiệt hại, theo Tòa án, “chi phí của việc tháo dỡ, dựng lại và toóc xi lại vách, theo thẩm định tổng chi phí là 5.850.000 đồng một lượt. Đây là số tiền thiệt hại thực tế do anh Thăng phải chi phí để di dời nhà đến, và sẽ di dời nhà đi nơi khác để trả đất cho ông Cường (cả hai lượt sẽ là 5.850.000 đ x 02 = 11.700.000 đ). Số tiền này là thiệt hại phát sinh do bị hủy hợp đồng, không làm tăng giá trị sử dụng đất. Nên bà Bính và ông Cường phải thanh toán cho anh Thăng”. Bên cạnh đó, vẫn theo Tòa án, “do hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất bị coi là vô hiệu nên quyền và nghĩa vụ của các bên không phát sinh. Vì vậy tại phiên tòa hôm nay, yêu cầu tính chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với thời điểm hiện tại cho anh Thăng đưa ra không được chấp nhận”. Đối với Tòa án, dường như chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất không phải là thiệt hại. Cách giải quyết này phù hợp với một quyết định năm 2002 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao. Cụ thể, ngày 04/4/2000 vợ chồng anh Vinh, chị Lan ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho chị Diệp. Giá chuyển nhượng là 32 chỉ vàng và chị Diệp đã giao đủ. Hợp đồng sau đó bị tuyên bố vô hiệu và theo Tòa dân sự, “kể cả trong trường hợp chị Diệp không có lỗi thì chênh lệch giá chuyển nhượng cũng không được coi là thiệt hại của chị Diệp để bồi thường vì là giao dịch vô hiệu nên quyền sử dụng đất của chị Diệp chưa phát sinh; chưa được hưởng lợi do việc giá chuyển nhượng tăng lên. Án phúc thẩm buộc anh Vinh và chị Lan phải trả cho chị Diệp 50 chỉ vàng là không có căn cứ pháp lý”[4]. Tuy nhiên, việc coi chênh lệch giá trị tài sản không là một thiệt hại ngày nay không còn phù hợp với pháp luật thực định. Bởi theo Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, “thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giữa nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất do các bên thỏa thuận với giá nhà gắn liền với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có”.

Về yếu tố lỗi, BLDS không có quy định cụ thể nên việc đánh giá lỗi là công việc của Tòa án. Trong thực tế, lỗi có thể là của một bên giao kết hợp đồng. Chẳng hạn, “một bên bị coi là có lỗi nếu bên đó có hành vi làm cho bên kia nhầm tưởng là có đầy đủ điều kiện để mua nhà ở hoặc bán nhà ở là hợp pháp”[5]. Đôi khi lỗi có thể do cả hai bên. Ví dụ, theo Tài liệu phục vụ thảo luận tại tổ trong Hội nghị tổng kết ngành Tòa án nhân dân năm 2006, “có trường hợp các bên giao kết hợp đồng có vi phạm về nội dung (như bán nhà, đất là tài sản chung hoặc là di sản thừa kế chưa chia, nhà chưa được công nhận quyền sở hữu...) mà việc vi phạm này cả hai bên đều biết nhưng vẫn giao kết hợp đồng, từ đó làm cho hợp đồng vô hiệu; nhưng khi giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, Tòa án lại xác định bên bán (hoặc bên mua) có lỗi 100% là không đúng”. Trong vụ việc đang nghiên cứu, theo Tòa án, “anh Thăng không hoàn toàn có lỗi trong việc ký kết hợp đồng bị coi là vô hiệu”. Bên cạnh đó, không thấy bản án cho rằng ông Cường có lỗi. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn thấy Tòa án xét rằng “theo thẩm định tổng chi phí là 5.850.000 đồng một lượt. Đây là số tiền thiệt hại thực tế do anh Thăng phải chi phí để di dời nhà đến, và sẽ di dời nhà đi nơi khác để trả đất cho ông Cường (cả hai lượt sẽ là 5.850.000 đ x 02= 11.700.000 đ). Số tiền này là thiệt hại phát sinh do bị hủy hợp đồng, không làm tăng giá trị sử dụng đất. Nên bà Bính và ông Cường phải thanh toán cho anh Thăng”. Cách giải quyết này là không hợp lý. Bởi lẽ, Tòa án buộc ông Cường “bồi thường thiệt hại” nhưng lại không chứng minh rằng ông Cường có lỗi trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu.


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI

Bản án số 01/2006/DSST ngày 21/02/2006

(Tên của các người liên quan trong vụ án đã được thay đổi)

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguồn gốc diện tích 288 m2 ông Cường và bà Bính đã chuyển nhượng cho anh Thăng là một phần trong tổng diện tích đất do bà Lợi - mẹ đẻ ông Cường để lại di sản sau khi chết. Tại thời điểm tháng 01/2004 do việc giải quyết chia thừa kết chưa được đặt ra nên ông Cường chỉ là người chiếm hữu sử dụng di sản thừa kế theo quy định tại khoản 2 Điều 638 BLDS. Nên việc ông Cường và bà Bính tự ý bán một phần di sản khi chưa được sự đồng ý của những người cùng hàng thừa kế là vi phạm các quy định tại khoản 2 Điều 639. Do khi bà Lợi chết không để lại di chúc, nên tại bản án chia thừa kế số 02/DSST ngày 17/5/2005 đã căn cứ vào các quy định về chia thừa kế theo pháp luật để chia cho ông Cường được sử dụng trị giá phần tài sản là giá trị quyền sử dụng 288 m2 đất đã bán cho anh Thăng. Đây được coi là tài sản riêng của ông Cường. Nên việc bà Bính cùng có ý kiến định đoạt khối tài sản này là trái với các quy định của pháp luật về quyền sở hữu.

Theo đề nghị của anh Hưng, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần với ông Cường. Tại Biên bản giám định pháp y tâm thần số 147/GĐPY ngày 15/12/2005 của Tổ chức giám định pháp y Tỉnh đã kết luận: Ông Cương bị mắc bệnh “loạn thần do sử dụng rượu”. Thời điểm mắc bệnh là trước ngày 01/01/2004 với biểu hiện của căn bệnh là mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng hiểu biết và khả năng điều khiển hành vi của mình.

Trên cơ sở kết luận giám định như trên, ông Cường được coi là người mất hoàn toàn năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự từ thời điểm trước ngày 01/01/2004. Khi đó bà Bính là vợ ông Cường nên trong mọi giao dịch dân sự, bà Bính phải tham gia với tư cách là người giám hộ để đại diện cho ông Cường, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của ông Cường theo quy định của BLDS. Nhưng trên thực tế trong quá trình giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà Bính đã không tham gia giao kết với tư cách là người giám hộ ông Cường, không đăng ký giám hộ mà tham gia ký kết hợp đồng như một chủ thể sở hữu tài sản với chính con riêng của bà Bính là anh Thăng. Như vậy trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Cường không hề có người giám hộ và không có ai đăng ký việc giám hộ cho ông Cường theo quy định của Điều 58 và 62 BLDS.

Ngày 13/6/2005, Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn xét xử và đã quyết định cho bà Bính ly hôn với ông Cường. Đến ngày 10/08/2005, anh Hưng là con trai của ông Cường và bà Chế (đã ly hôn năm 1979) mới đăng ký việc giám hộ cho ông Cường tại UBND xã. Do đó tính đến ngày 10/8/2005, ông Cường mới có người giám hộ - đại diện hợp pháp. Căn cứ theo khoản 2 Điều 161, thì thời hiệu khởi kiện vụ án được tính từ thời điểm ông Cường có người giám hộ đại diện theo quy định tại Điều 58 và 67 BLDS (từ ngày 10/8/2005) chứ không phải là ngày giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 136 BLDS.

Như các phân tích đã nêu trên, cho thấy anh Thăng đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Cường là người mất năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi dân sự. Và bà Bính là người không có quyền định đoạt, xử lý tài sản là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng mà không có sự tham gia của người đại diện cho ông Cường. Vì vậy đã làm phát sinh một hợp đồng với các giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ do vi phạm quy định tại Điều 133 BLDS. Vì vậy, cần căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 137 BLDS để hủy hợp đồng chuyển nhượng nêu trên và xử buộc anh Thăng trả lại 288 m2 đất thổ cư cho ông Cường và người đại diện là anh Hưng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa bà Bính đều thừa nhận số tiền bán đất cho anh Thăng là 20.000.000 đồng đã được bà sử dụng vào mục đích chung của cả gia đình khi hôn nhân giữa bà và ông Cường còn tồn tại. Vào ngày 13/6/2005 Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn đã xử cho bà ly hôn với ông Cường. Về tài sản và các nghĩa vụ chung Tòa án đã chia cho các bên theo quy định của pháp luật. Do đó số tiền bán đất cho anh Thăng mà có, đến nay bà Bính và ông Cường (mà đại diện là anh Hưng) đều phải cùng có trách nhiệm trả cho anh Thăng. Việc anh Hưng đề nghị không phải trả số tiền này, do khi đó số tiền này bà Bính quản lý, chỉ tiêu là không có căn cứ, cần bác yêu cầu trên của anh Hưng. Để xử buộc bà Bính phải trả cho anh Thăng số tiền là 10.000.000 đồng và ông Cường do anh Hưng đại diện phải trả cho anh Thăng số tiền là 10.000.000đồng.

Do hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất bị coi là vô hiệu nên quyền và nghĩa vụ của các bên không phát sinh. Vì vậy tại phiên tòa hôm nay, yêu cầu tính chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với thời điểm hiện tại cho anh Thăng đưa ra không được chấp nhận. Nhưng trong quá trình sử dụng đất anh Thăng đã đầu tư xây dựng các công trình gồm xây kè bờ ao, láng nền nhà, nền sân, xây và láng nền chuồng lợn và thuê người dựng nhà trên đất. Tại phiên tòa, anh Thăng tính toán tổng chi phí là 17.450.000 đồng. Và yêu cầu ông Cường phải thanh toán lại cho anh các chi phí này nếu anh phải trả lại đất.

Xét việc anh Thăng yêu cầu như trên là hoàn toàn phù hợp, cần được chấp nhận vì việc anh đầu tư xây dựng các công trình này đã làm tăng giá trị quyền sử dụng đất. Nay buộc anh Thăng phải trả lại nhà đất cho ông Cường cũng phải buộc ông Cường và người đại diện là anh Hưng phải thanh toán lại các chi phí này. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì các công trình xây dựng trên đất gồm: Bờ kè xây bằng đá; nền nhà, nền sân láng xi măng, nền và tường chuồng lợn xây có tổng giá trị là 4.199.000 đồng. Cần buộc ông Cường và anh Hưng phải thanh toán toàn bộ số tiền này cho anh Thăng.

Do anh Thăng không hoàn toàn có lỗi trong việc ký kết hợp đồng bị coi là vô hiệu. Trong quá trình sử dụng đất anh đã dựng nhà ở trên đất này. Với chi phí của việc tháo dỡ, dựng lại và toóc xi lại vách, theo thẩm định tổng chi phí là 5.850.000 đồng một lượt. Đây là số tiền thiệt hại thực tế do anh Thăng phải chi phí để di dời nhà đến, và sẽ di dời nhà đi nơi khác để trả đất cho ông Cường (cả hai lượt sẽ là 5.850.000 đ x 02 = 11.700.000 đ). Số tiền này là thiệt hại phát sinh do bị hủy hợp đồng, không làm tăng giá trị sử dụng đất. Nên bà Bính và ông Cường phải thanh toán cho anh Thăng. Cần xử buộc bà Bính phải thanh toán cho anh Thăng số tiền là 5.850.000 đồng. Buộc ông Cường và người đại diện là anh Hưng thanh toán cho anh Thăng số tiền là 5.850.000 đồng. Như vậy tổng cộng cần xử buộc anh Hưng là người đại diện cho ông Cường phải thanh toán cho anh Thăng số tiền là 20.049.000 đồng (10.000.000 đ + 4.199.000 đ + 5.850.000 đ). Xử buộc bà Bính phải thanh toán cho anh Thăng số tiền là 10.000.000 đ + 5.850.000 đ = 15.850.000đ.

Trong quá trình giải quyết cả nguyên đơn và bị đơn đều đưa ra các giấy tờ, tài liệu và lời xác nhận của một số người làm chứng nhằm chứng minh ông Cường có bị tâm thần hay không. Tuy nhiên các giấy tờ và lời làm chứng nêu trên về cơ bản đa số đều thiếu khách quan do việc xác nhận không rõ ràng, không dựa trên cơ sở khoa học mà chủ yếu xuất phát từ những cảm nhận chủ quan. Anh Thăng có xuất trình Giấy chuyển nhượng sử dụng đất, giấy trả nhận tiền và một số giấy tờ do ông Cường viết, nhằm chứng minh ông Cường không bị tâm thần. Nhưng tại Bản giám định pháp y đã kết luận ông Cường mất hoàn toàn khả năng tư duy, khả năng điều khiển hành vi. Do vậy, việc xác định ông Cường có bị tâm thần hay không chủ yếu dựa trên kết luận khoa học, chứ không căn cứ vào việc ông có viết được các giấy tờ hay không. Mặt khác, trong giấy trả nhận tiền đề ngày 20/01/2004 có chữ ký xác nhận của ông Hành là trưởng thôn. Nhưng theo Quyết định số 12 ngày 01/03/2004 thì ông Hành được bổ nhiệm làm trưởng thôn từ 01/03/2004 chứ không phải từ tháng 01/2004 như văn bản này thể hiện. Tại phiên tòa phía nguyên đơn cũng cung cấp Bản đề nghị do ông Hành trình bày việc ký xác nhận được thực hiện không cùng vời thời điểm lập văn bản này mà do bà Bính về sau đó đề nghị nên ông ký xác nhận hộ mà không được trực tiếp chứng kiến việc trả nhận tiền. Như vậy giấy tờ này có sự sai lệch, thể hiện sự không trung thực nên không thể sử dụng làm chứng cứ. Tại phiên tòa, những người làm chứng như ông Đi, ông Vĩnh đều khai tuy không dám khẳng định ông Cường tâm thần nhưng trong quá trình tiếp xúc ông thấy có nhiều biểu hiện không bình thường. Những người làm chứng khác có mặt tại phiên toàn đều thể hiện không thường xuyên tiếp xúc với ông Cường nhưng thấy ông Cường có biểu hiện bình thường. Những lời làm chứng này về cơ bản không có giá trị lớn trong việc chứng minh sự khách quan của vụ án.

Về án phí: Do anh Hưng và bà Bính đều bị xử buộc phải thanh toán cho anh Thắng. Vì vậy anh Hưng và bà Bính phải chịu án phí trên tổng số tiền phải thanh toán, theo quy định pháp luật. Cụ thể, anh Hưng phải chịu 20.049.000 đ x 5% = 1.002.000 đ; bà Bính phải chịu 15.850.000 đ x 5% = 792.500 đ. Anh Thăng do bị bác yêu cầu giữ nguyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên giá trị của hợp đồng là 20.000.000 đ x 5% = 1.000.000 đ.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 127, 131, 171, 179, 180, 195 BLTTDS;

Căn cứ vào các Điều 58, 62, 133, khoản 2 Điều 137, khoản 2 Điều 161, khoản 1 Điều 676 BLDS:

1. Xử hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Cường và bà Bính với anh Thăng. Buộc anh Thăng phải trả lại 288 m2 đất thổ cư cho ông Cường và người giám hộ của ông Cường là anh Hưng quản lý, sử dụng.

2. Xử buộc anh Hưng phải thanh toán cho anh Thắng số tiền là 20.049.000 đồng. Buộc bà Bính phải thanh toán cho anh Thắng số tiền là 15.850.000 đồng.

3. Về án phí....



[1] Xem G. Rouhette (chủ biên), Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, Nxb. Société de législation comparée, 2003, tr. 235.

[2] Xem Đinh Trung Tụng (chủ biên), Bình luận những nội dung mới của BLDS, Nxb. Tư pháp, 2005, tr. 100.

[3] Báo cáo tham luận tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2004 tại TP. Hồ Chí Minh ngày 05 - 07/1/2005.

[4] Quyết định số 146/GĐT-DS ngày 30/7/2002 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

[5] Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Ngày cập nhật (Thứ ba, 23 12 2008 10:02)

 
Chế độ hiển thị tốt nhất: 1024 x 800  với MoZilla Firefox