DANH MỤC
THÔNG TIN KHÁC
Weblink

 

 

Mấy ý kiến về phương pháp đánh giá kết quả học tập trong trường đại học

 

Mấy ý kiến về phương pháp đánh giá kết quả học tập trong trường đại học (LÊ THỊ BÍCH THỌ).

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL SỐ 6/2002

Mấy ý kiến về phương pháp đánh giá kết quả học tập trong trường Đại học

LÊ THỊ BÍCH THỌ
Thạc sĩ, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP. HCM


Đánh giá kết quả học tập là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập không chỉ nhằm mục đích đánh giá kết quả quá trình học tập của người học (sinh viên) mà còn là nguồn thông tin ngược (phản hồi) giúp người dạy (thầy) nắm bắt được chất lượng, phương pháp của việc giảng dạy để từ đó có những điều chỉnh thích hợp cho công tác giảng dạy của mình. Như vậy việc đánh giá kết quả học tập của người học có mối quan hệ chặt chẽ với việc giảng dạy của người thầy. Tuy nhiên, làm thế nào để việc đánh giá kết quả phản ánh trung thực, chính xác, đầy đủ những kiến thức mà người học tiếp thu được và làm thế nào để có phương pháp đánh giá kết quả học tập thích hợp vẫn là những điều mà các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo quan tâm.

Việc đánh giá kết quả học tập ở các Trường Đại học được áp dụng theo các qui chế hiện hành của Bộ giáo dục và đào tạo về tổ chức thi, kiểm tra và công nhận tốt nghiệp. Các qui chế này được áp dụng cho các đối tượng học khác nhau theo cách phân chia đối tượng chính qui và các hình thức không chính qui (chuyên tu, tại chức, mở rộng). Tuy nhiên về hình thức đánh giá kết quả học tập, cách tính điểm trung bình chung cho toàn khóa học là không có sự khác nhau lớn. Sự khác nhau cơ bản ở đây là điều kiện để được dự thi và công nhận tốt nghiệp. Trong bài viết này chúng tôi chỉ tập trung vào việc trình bày phương pháp đánh giá kết quả đối với sinh viên hệ chính qui.

Đối với hệ chính qui, việc đánh giá kết quả học tập hiện đang được thực hiện theo Qui chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp Đại học và Cao đẳng hệ chính qui ban hành kèm theo Quyết định số 04/1999/QĐ-BGD & ĐT ngày 11/2/1999 của Bộ giáo dục và đào tạo. Theo đó việc đánh giá kết quả học tập được thực hiện đối với học phần, theo học kỳ và cho toàn khoá học.

1. Đánh giá kết quả học tập thông qua việc thi, kiểm tra học phần

Kết quả học tập của một sinh viên được hình thành từ kết quả học tập của từng môn học (học phần). Theo qui chế hiện hành, việc đánh giá kết quả học tập của từng môn học được thực hiện thông qua các hình thức: thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, làm thực tập hoặc kết hợp giữa các hình thức trên1. Việc áp dụng hình thức nào phụ thuộc vào điều kiện giáo viên, vào tính chất của từng môn học và vào mục tiêu được đặt ra đối với môn học. Mỗi hình thức trong quá trình thực hiện đều có những ưu điểm và nảy sinh những hạn chế nhất định. Cụ thể:

Đối với hình thức thi viết: Đây là hình thức được áp dụng khá phổ biến. Theo hình thức này giáo viên cho một đề thi có thể là tự luận hoặc trắc nghiệm. Thời gian làm bài tuỳ theo đề thi nhưng được giới hạn từ 60 đến 180 phút. Phương pháp này có ưu điểm là tạo cho sinh viên có điều kiện trình bày các vấn đề đã học một cách chủ động, rèn luyện khả năng lập luận logic, phân tích, tổng hợp kiến thức môn học. Hạn chế của hình thức này là tính chính xác và khách quan trong đánh giá bị hạn chế. Do số lượng câu hỏi trong một đề thi không nhiều và không bao trùm toàn bộ nội dung môn học nên dễ đưa đến tình trạng học tủ, quay cóp. Vì thời gian thi có hạn, khối lượng kiến thức của môn học được yêu cầu trong đề thi chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong toàn bộ chương trình của môn học nên kết quả thi có khi không phản ánh đúng chất lượng của người học. Do vậy, khả năng có những sinh viên bị điểm kém chưa chắc đã kém hơn so với sinh viên thi cùng môn học được điểm cao do “trúng tủ”.

Để khắc phục những hạn chế của hình thức này, nâng cao tính chính xác và khách quan của việc đánh giá kết quả học tập và đảm bảo yêu cầu đào tạo của nhà trường, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh đã có những đổi mới, hoàn thiện các biện pháp đánh giá kết quả học tập trong sinh viên. Cụ thể:

+ Sử dụng ngân hàng đề thi. Đảm bảo người dạy không cắt xén chương trình và người học không học tủ, học trọng tâm và đảm bảo tính khách quan, vô tư trong thi cử.

+ Tổ chức cắt phách bài thi. Bộ phận làm phách không phải là các giáo viên chấm thi.

+ Thường xuyên thay đổi bộ đề thi, đổi mới cách ra đề thi để đảm bảo tính chính xác, tính thời sự của đề thi và hạn chế việc sinh viên tự thu thập đề thi và giải trước.

So với trước, cách ra một đề thi viết cũng có những thay đổi. Đó là các đề thi viết không chỉ giới hạn ở các đề tự luận như trước mà được thiết kế bằng sự kết hợp giữa tự luận, trắc nghiệm tự luận và giải quyết tình huống. Đối với hầu hết các môn khoa học pháp lý, đề thi thường được cấu tạo bởi hai phần: Lý thuyết và bài tập. Ở phần lý thuyết các câu hỏi đưa ra là câu hỏi tự luận hoặc/và câu hỏi trắc nghiệm tự luận (câu hỏi đúng sai có giải thích vì sao). Phần bài tập là một hoặc nhiều tình huống yêu cầu giải quyết. Cách ra đề thi như trên đã giải quyết được những hạn chế của bài thi viết thuần tuý tự luận đòi hỏi sinh viên có sự ứng dụng các kiến thức lí luận cũng như pháp luật thực định trong việc giải quyết các tình huống cụ thể. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phương pháp đánh giá nêu trên cũng đã nảy sinh một số vấn đề sau:

Một là, mặc dù nhiều đề thi đã được thiết kế theo hướng đòi hỏi sinh viên phải biết vận dụng và rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp song lại không cho phép sinh viên sử dụng tài liệu khi làm bài. Điều này dẫn đến việc sinh viên phải học thuộc. Theo chúng tôi nên hướng đến việc ra các đề thi không hạn chế việc sử dụng tài liệu bởi một trong các yêu cầu đặt ra đối với sinh viên luật là phải nắm kiến thức và vận dụng chúng trong xử lí các tình huống cụ thể. Mục tiêu đào tạo ở bậc đại học nói chung và ở đại học luật nói riêng không nhằm đào tạo ra những người chỉ biết nắm bắt những kiến thức của thầy một cách thụ động mà trang bị cho sinh viên học phương pháp tư duy để xử lý công việc, nói cách khác là học phương pháp học. Điều này đưa đến một thực tế nếu đề thi ra vào phần giáo viên không đề cập đến trên lớp sẽ gặp phản ứng của người học và giáo viên thường sử dụng giờ trên lớp chỉ để giảng thay vì hướng cho người học cách tự học. Và đây cũng là cách thi dễ tạo cho người học vi phạm qui chế thi. Vì vậy theo chúng tôi cần có các đề thi theo hướng cho sinh viên được sử dụng tài liệu để giải quyết các vấn đề cụ thể hoặc phân tích, tổng hợp kiến thức. Cho đến nay phần lớn đề thi của các môn khoa học pháp lý được thiết kế theo hướng cho sinh viên được sử dụng văn bản pháp luật, có một số môn học đề thi đã cho phép sinh viên được sử dụng không chỉ văn bản pháp luật mà sử dụng bất cứ tài liệu nào. Tuy nhiên, việc ra các đề thi loại này không phải là đơn giản.

Hai là, do thời gian làm bài đối với một học phần được giới hạn trong một khoảng thời gian ngắn nên việc làm bài và chấm bài cũng chỉ giới hạn ở việc chấm ý nên dù là bài tự luận thì sinh viên cũng không có khả năng rèn luyện kĩ năng viết.

Ba là, theo qui chế hiện hành thì để được dự thi hết học phần sinh viên phải đạt điểm từ 5 trở lên cho trên 50% tổng số học trình của mỗi môn học2. Về điểm này, trên thực tế thực hiện cũng có nhiều vấn đề cần xem xét. Thông thường các bài kiểm tra học trình được thực hiện không báo trước nên hầu như sinh viên chưa có sự chuẩn bị kỹ, thời gian làm bài lại rất ngắn nên điểm rất thấp. Vì vậy, việc kiểm tra học trình trên thực tế mang ý nghĩa kiểm tra việc có mặt của sinh viên trên lớp hơn là nhằm mục đích đánh giá kết quả học tập của sinh viên, là phương tiện giúp người thầy nắm bắt được thông tin để điều chỉnh việc giảng dạy cho thích hợp và giúp người học học lấy phương pháp làm bài.

Đối với hình thức thi vấn đáp: Hình thức này có ưu điểm là có thể kiểm tra kiến thức của sinh viên tương đối rộng, tạo cho sinh viên có khả năng phản xạ trước các vấn đề, khắc phục được việc học tủ trong sinh viên và kết quả học tập được công bố nhanh, xác định tương đối chính xác kết quả học tập của sinh viên. Tuy nhiên, hình thức này lại đòi hỏi thời gian tổ chức thi dài, vì vậy đối với các khóa đông, giáo viên không nhiều thì khó thực hiện, bên cạnh đó hình thức này cũng có những hạn chế là không tạo cho sinh viên có tư duy hệ thống vì thời gian trả lời các câu hỏi thi của mỗi sinh viên ngắn nên các vấn đề trả lời chỉ là các ý, tản mạn, và hạn chế khả năng lập luận của sinh viên và việc đánh giá phụ thuộc vào ý thức chủ quan của thầy.

Đối với thi trắc nghiệm khách quan: Thi trắc nghiệm khách quan bước đầu đang được thử nghiệm ở một số môn học (logic, ngoại ngữ và công pháp quốc tế). Đây là phương pháp tiện lợi khi chấm thi và đánh giá kết quả của người học một cách khách quan vì kết quả chấm thi hoàn toàn không dựa vào ý chủ quan của người chấm nên dù có nhiều người chấm khác nhau vẫn cho kết quả giống nhau. Đối với kỳ thi tuyển sinh, các môn có độ chính xác cao như ngoại ngữ, logic, toán học thì việc thi trắc nghiệm có lẽ sẽ đem lại nhiều ưu điểm bởi tính khách quan, nhanh chóng và nội dung rộng, song việc áp dụng chúng để thi kết thúc học phần đối với các môn khoa học xã hội nhân văn, đặc biệt là luật học là vấn đề theo chúng tôi cần phải có sự nghiên cứu kĩ lưỡng. Riêng tôi cho rằng đối với các môn khoa học pháp lý thì thi trắc nghiệm là không thích hợp vì không thể lấy phương pháp toán học để đánh giá khoa học xã hội, nhất là đối với khoa học pháp lý, một ngành khoa học thực tiễn. Vì vậy, đối với các môn khoa học pháp lý, phương pháp này chỉ nên áp dụng trong kiểm tra học trình để kiểm tra các kiến thức đã được xác định trong luật, các vấn đề thuần tuý lý luận.

Ngoài các hình thức đánh giá nêu trên, nhà trường còn sử dụng các hình thức khác như viết tiểu luận thực tập, tiểu luận môn học, khoá luận tốt nghiệp… Các hình thức này có ưu điểm là tạo cho sinh viên bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng viết, lập luận logic, vận dụng thực tiễn…

2. Đánh giá kết quả học tập của năm học

Kết quả học tập của một năm học được tính bằng điểm trung bình chung học tập. Điểm trung bình chung học tập được xác định bởi các điểm thi học phần, điểm tiểu luận, bài tập hoặc kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên. Sinh viên có kết quả từ 5,0 trở lên và số học trình còn nợ không quá 25% tổng số học trình của năm học sẽ được xét lên lớp, những sinh viên có điểm trung bình chung từ 4,0 đến cận 5,0 phải tạm ngừng tiến độ học tập từ 1 đến 2 học kỳ để trả nợ các học phần còn nợ. Những sinh viên có kết quả dưới 4,0 bị buộc thôi học3. Đối với diện ưu tiên 1 khu vực 1 giảm 0,6 điểm, ưu tiên 2 khu vực 1 và ưu tiên 1 khu vực 2 giảm 0,4 điểm, ưu tiên 2 khu vực 2 giảm 0,2 điểm để xét lên lớp, tạm dừng tiến độ học tập hoặc bị buộc thôi học4. Như vậy, đối với những sinh viên thuộc các diện ưu tiên nêu trên sẽ có điều kiện xét lên lớp thấp hơn so với các sinh viên khác. Về điểm này của qui chế, chúng tôi cho là cần phải xem xét lại. Theo chúng tôi không thể áp dụng chế độ ưu tiên trong việc xét lên lớp, tạm dừng tiến độ học tập bởi vì qui định về điều kiện lên lớp, tạm dừng tiến độ học tập hoặc bị buộc thôi học đối với một sinh viên được đưa ra xuất phát từ khả năng để một sinh viên bình thường có thể theo học tiếp tục, như vậy các sinh viên dù ở đâu và thuộc đối tượng nào cũng phải tuân thủ. Không thể coi một sinh viên đạt kết quả 4,4 thuộc diện ưu tiên với một sinh viên đạt kết quả 5,0 là những người có cùng một trình độ. Việc ưu tiên theo chúng tôi chỉ nên giới hạn ở việc quan tâm các điều kiện học tập và cho phép họ kéo dài thời hạn học tập ở trường hơn so với các sinh viên không thuộc diện ưu tiên.

Trong năm học này, nhà trường đã triển khai thực hiện thí điểm đánh giá kết quả việc rèn luyện phẩm chất chính trị, lối sống của sinh viên theo công văn số 8193/CTCT và 8194/CTCT ngày 1/9/2000 của Bộ Giáo dục và đào tạo về việc chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện thí điểm đánh giá kết quả việc rèn luyện phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống của sinh viên học sinh. Theo đó điểm trung bình chung của một sinh viên được tính bằng điểm trung bình chung học tập và trung bình chung rèn luyện. Mức điểm trung bình chung rèn luyện cao nhất cho một sinh viên được hưởng là 1,2 và bị trừ là 0,6 điểm. Về vấn đề này chúng tôi cho là cũng cần có sự cân nhắc. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong một bài viết khác.

3. Đánh giá kết quảchung toàn khóa học

Điểm trung bình chung được tính bằng điểm trung bình chung học tập và điểm rèn luyện. Kết quả học tập toàn khoá học sẽ được chia thành 7 mức: xuất sắc (từ 9 đến 10), giỏi (từ 8 đến cận 9), khá (từ 7 đến cận 8), trung bình khá (từ 6 đến cận 7), trung bình (từ 5 đến cận 6), yếu (từ 4 đến cận 5) và kém (dưới 4)5. Việc phân loại học sinh như trên áp dụng đối với tất cả các ngành học theo chúng tôi là chưa phù hợp, chưa quan tâm đến tính đặc thù của từng ngành học. Thực tế áp dụng các qui chế của Bộ trong những năm gần đây cho thấy tỷ lệ sinh viên đạt loại khá toàn khoá học còn thấp (chiếm khoảng 10% trên tổng số sinh viên tốt nghiệp). Kết quả đạt loại giỏi rất hiếm hoi, có khóa có và có khóa không, và nếu có thì cả một khóa sinh viên tốt nghiệp mới có 1 sinh viên và sinh viên đạt loại xuất sắc không có. Kết quả này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉ muốn đề cập đến một yếu tố là tính đặc thù của khoa học xã hội nói chung và luật học nói riêng. Đối với khoa học xã hội thì việc một sinh viên đạt được điểm giỏi là rất khó khăn, bởi lẽ đó là môn khoa học như đã nói ở trên là việc xác định đúng sai phụ thuộc vào sự lập luận của người làm bài rất nhiều và để có sự thống nhất một cách tuyệt đối là không dễ. Thực tế đã kiểm chứng: Ví dụ trong những năm học phổ thông, điểm của các môn xã hội thường không cao. Để đạt được điểm 10 của các môn khoa học xã hội là điều rất hiếm khi xảy ra. Một ví dụ khác là điểm thi tuyển sinh của trường trong nhiều năm qua bao giờ điểm thủ khoa của khối C cũng thấp hơn khối A ít nhất là 3 điểm. Thông thường thí sinh khối C đạt khoảng 24 hoặc 24,5 đã là thủ khoa trong khi đó khối A thủ khoa có kết quả là 27 đến 30 điểm. Vì vậy, theo chúng tôi Bộ cần có qui định đối với loại khá trở lên cho ngành luật thấp hơn 0,5 điểm. Cụ thể: Khởi điểm của loại khá là 6,5; Loại giỏi là 7,5.

Trên cơ sở của những trình bày trên, chúng tôi có một số đề xuất sau đây:

- Việc áp dụng các hình thức thi, kiểm tra cần được thực hiện một cách sáng tạo phù hợp với mục tiêu của từng môn học. Cần có sự kết hợp hài hòa giữa các hình thức thi, kiểm tra, không nên chỉ áp dụng cứng nhắc một loại hình nào.

- Đề thi nên theo hướng cho sinh viên được sử dụng tài liệu.

- Điều kiện phân loại sinh viên từ loại khá trở lên không nên áp dụng một cách cứng nhắc và chỉ có một chuẩn như hiện nay mà cần tính đến tính đặc thù của khoa học pháp lý. ·

1 Qui chế về tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp Đại học và Cao đẳng hệ chính qui ban hành kèm theo Quyết định số 04/1999 QĐ-BGD & ĐT ngày 11/2/1999 của Bộ giáo dục và đào tạo, Khoản 2, điều 10.

2 Xem trên, Điều 8, khoản 1(b).

3 Xem trên, Điều 4.

4 Xem trên, Điều 5, khoản 2 (a).

5 Xem trên, Điều 11.

Ngày cập nhật (Thứ năm, 18 12 2008 16:35)

 
Chế độ hiển thị tốt nhất: 1024 x 800  với MoZilla Firefox