DANH MỤC
THÔNG TIN KHÁC
Nhà sách Online
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Những bất cập trong nghị định 75/CP về công chứng và chứng thực

Những bất cập trong nghị định 75/CP về công chứng và chứng thực(Trần Văn Bảy)

ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL 5/2002

NHỮNG BẤT CẬP TRONG NGHỊ ĐỊNH 75/CP VỀ CÔNG CHÚNG VÀ CHỨNG THỰC

TRẦN VĂN BẢY
ThS. Giảng viên khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật TP. HCM

 

Có thể nói hoạt động công chứng đã xuất hiện khá sớm ở Việt Nam(1). Khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã áp đặt kiểu mẫu công chứng của họ vào nước ta mà điển hình là Sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo Nghị định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies). Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục kế thừa mô hình công chứng đã có trước đó tuy có lược bỏ những quy định cũ trái với nền độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa. Nhưng do những điều kiện khách quan mà trong suốt hơn 40 năm sau đó, hoạt động công chứng ở nước ta bị đình trệ, hầu như không tồn tại, mọi giao dịch, giấy tờ thuộc lĩnh vực công chứng đều do Ủy ban hành chính thực hiện.

Ngày 27 tháng 2 năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 45/HĐBT chính thức khôi phục lại hoạt động công chứng ở nước ta. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau Nghị định 45/HĐBT cũng đã cho phép những nơi chưa thành lập được Phòng Công chứng thì UBND tiếp tục thực hiện một số việc công chứng.

Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện Nghị định 45/HĐBT, bên cạnh những thành tựu bước đầu đã cho thấy văn bản này chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu giao dịch ngày càng gia tăng trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Ngày 18 tháng 5 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước để thay thế Nghị định 45 /HĐBT. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 1411-TT.CC ngày 3 tháng 10 năm 1996 để hướng dẫn thực hiện Nghị định 31/CP. Các văn bản này đã khắc phục một số điểm bất hợp lý trong hoạt động công chứng nhưng phải thừa nhận rằng nội dung của Nghị định 31/CP và Thông tư 1411 còn có quá nhiều bất cập, gây khó khăn, lúng túng trong hoạt động của các cơ quan công chứng, đặc biệt là gây nên sự phiền hà cho các cá nhân, tổ chức khi họ có yêu cầu công chứng.

Để kịp thời giải quyết những bất cập đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 75/CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2001) về công chứng, chứng thực để thay thế Nghị định 31/CP. Tiếp đó, ngày 14 tháng 3 năm 2001, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 03/2001/TP-CC để hướng dẫn thực hiện Nghị định 75/CP.

Qua nghiên cứu và qua khảo sát thực tiễn hoạt động công chứng, chúng tôi nhận thấy Nghị định 75/CP còn nhiều điểm bất cập, chưa rõ ràng, thậm chí không chính xác, gây khó khăn, lúng túng trong hoạt động công chứng. Trong phạm vi bài viết này, bước đầu chúng tôi xin nêu ra những vấn đề bất cập sau đây:

I. VỀ KHÁI NIỆM CÔNG CHỨNG:

Điều 2 Nghị định 75/CP quy định:

Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác, cũng như thực hiện các việc khác theo quy định của pháp luật.

Chứng thực là việc UBND cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của pháp luật.

Tinh thần của Điều 2 nói trên thể hiện sự cố gắng phân định công chứng với chứng thực. Tuy nhiên, việc chỉ dựa vào tiêu chí duy nhất là chủ thể có thẩm quyền thực hiện chứng nhận để phân định là không chính xác. Theo chúng tôi, để làm rõ hoạt động nào là công chứng, hoạt động nào là chứng thực cần phải dựa vào bản chất của hoạt động ấy. Bản chất của hoạt động công chứng là thông qua sự chứng nhận của cơ quan công quyền làm cho các văn bản, giấy tờ trở nên có độ tin cậy cao hơn so với các văn bản, giấy tờ chưa được công chứng, hay nói một cách khác là đem lại cho các văn bản, giấy tờ này “ dấu ấn” của công quyền. Từ cách hiểu đó, chúng tôi cho rằng những loại việc gọi là chứng thực như quy định tại Điều 2 Nghị định 75/CP xét về bản chất phải được gọi là công chứng, để phân biệt với hành vi thị thực hành chính của Ủy ban nhân dân. Bởi lẽ, xét về bản chất thì hành vi công chứng (và cả hành vi chứng thực có tính chất công chứng như quy định của Nghị định 75/CP) khác với hành vi thị thực hành chính. Về vấn đề này, Tiến sĩ Đặng Văn Khanh đã rất có lý khi cho rằng hai loại hành vi nói trên khác nhau ở chỗ:

Một là, đối tượng của hành vi thị thực hành chính là những văn bản giấy tờ thuộc lĩnh vực quản lý hành chính (như chứng nhận tình trạng hôn nhân, chứng nhận lý lịch …); còn đối tượng của hành vi công chứng là những hợp đồng, giao dịch, giấy tờ thuộc các lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại … (như hợp đồng dân sự, di chúc…).

Hai là, bản chất của hành vi thị thực hành chính là sự nhận xét, áp đặt mang tính chất hành chính của chính quyền đối với một sự kiện pháp lý cụ thể nào đó và đối với công dân thuộc quyền quản lý của mình; còn bản chất của hành vi công chứng là việc chứng nhận ý chí, nguyện vọng của đương sự khi họ lập các văn bản, giấy tờ phục vụ cho các giao dịch của họ(2).

Như vậy, đã khá rõ là hành vi công chứng và hành vi thị thực hành chính là khác nhau. Về mặt nguyên tắc, hành vi công chứng phải do cơ quan công chứng thực hiện; còn hành vi thị thực hành chính sẽ do cơ quan hành chính thực hiện. Tuy nhiên, xuất phát từ lịch sử và điều kiện thực tế ở nước ta, cũng như để giải quyết sự quá tải của cơ quan công chứng, giảm thiểu sự phiền hà trong nhân dân thì không nhất thiết mọi việc công chứng đều quy định cho Phòng Công chứng. Chúng tôi ủng hộ việc tiếp tục giao cho Ủy ban nhân dân thực hiện một số việc công chứng đơn giản, phổ biến nhưng cần nói rõ những việc ấy vẫn phải được gọi là công chứng chứ không vì giao cho Ủy ban nhân dân (hoặc một cơ quan nào đó) mà dẫn đến việc gọi khác đi là chứng thực hay thị thực. Khi đó, bên cạnh việc thực hiện một số hành vi công chứng, Ủy ban nhân dân còn thực hiện các hành vi thị thực hành chính, một loại việc vốn dĩ thuộc chức năng quản lý của Ủy ban nhân dân.

Cần nói thêm rằng, theo Nghị định 75/CP và Pháp lệnh lãnh sự ngày 13 tháng 11 năm 1990 thì cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng có thẩm quyền chứng nhận một số loại việc. Tuy nhiên, trong khái niệm về công chứng như đã nói trên không đề cập đến hành vi chứng nhận của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Vậy hành vi chứng nhận của cơ quan này sẽ được gọi là gì? Tại Điều 25 Nghị định 75/CP quy định cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thẩm quyền công chứng các việc thuộc thẩm quyền của Phòng Công chứng và các việc khác theo quy định của Pháp lệnh lãnh sự, trừ việc giao kết hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, thế chấp bất động sản tại Việt Nam. Như vậy, câu trả lời đã khá rõ là hành vi chứng nhận của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phải được xem là hành vi công chứng.

Bởi các lý do nói trên, chúng tôi kiến nghị trong các văn bản pháp luật điều chỉnh về công chứng cần đưa ra khái niệm chính xác về công chứng theo hướng những việc gì xét về bản chất là việc công chứng thì gọi là công chứng bất luận việc đó pháp luật giao cho cơ quan nào đảm trách. Việc làm rõ khái niệm công chứng chẳng những có ý nghĩa giúp phân biệt công chứng với thị thực hành chính mà nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định trình tự, thủ tục công chứng, cũng như giá trị pháp lý của chứng thư.

II. VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA VĂN BẢN CÔNG CHỨNG:

Giá trị pháp lý của văn bản công chứng là một nội dung quan trọng nói lên bản chất nền công chứng của mỗi quốc gia.

Điều 14 Nghị định 75/CP quy định:

Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp được thực hiện không đúng thẩm quyền hoặc không tuân theo quy định của pháp luật hoặc bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

Quy định trên được hiểu là về mặt nguyên tắc văn bản đã được công chứng thì có giá trị chứng cứ, còn nếu văn bản mặc dù đã được công chứng nhưng rơi vào một trong ba trường hợp nói trên thì nó không phải là chứng cứ. Trong khi đó, theo lý luận chứng cứ thì chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự pháp luật quy định, được các cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ chứng minh trong vụ án. Như vậy, văn bản đã được công chứng bất luận trong trường hợp nào nếu nó thỏa mãn tính hợp pháp, tính khách quan, tính liên quan thì đều có thể trở thành chứng cứ (còn việc sử dụng chứng cứ đó để chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của đương sự nào đó lại là vấn đề khác).

Ví dụ: Hợp đồng mua bán động sản có giá trị trên 50 triệu đồng, theo quy định của Nghị định 75/CP phải do Phòng Công chứng chứng nhận nhưng giả sử lại được chứng thực tại UBND cấp huyện. Trong quá trình thực hiện hợp đồng phát sinh tranh chấp, các bên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong trường hợp này, hợp đồng nói trên đã được chứng thực không đúng thẩm quyền nhưng vẫn có thể được Tòa án xem là chứng cứ trong vụ án.

Tương tự như trên, các văn bản giấy tờ chưa được công chứng nhưng vẫn có thể được các cơ quan tiến hành tố tụng xem là chứng cứ để giải quyết vụ án.

Bởi các lý do như đã trình bày, chúng tôi cho rằng việc xác định giá trị pháp lý của chứng thư bằng cách xem nó có giá trị chứng cứ là chưa chính xác, vì nó không làm tăng giá trị pháp lý của chứng thư so với các văn bản, giấy tờ chưa được công chứng.

Điều 14 Nghị định 75/CP sau khi xác định giá trị công chứng của các chứng thư có quy định thêm rằng: đối với hợp đồng đã được công chứng thì sẽ có giá trị thi hành đối với các bên giao kết.

Việc xác định giá trị thi hành chỉ “đối với các bên giao kết”, theo chúng tôi là chưa đầy đủ, bởi ngoài các bên giao kết, việc thực hiện hợp đồng, giao dịch còn có thể xuất hiện loại chủ thể thứ ba. Ví dụ: trong hợp đồng mua bán nhà, sau khi đã được công chứng thì đương sự phải liên hệ với cơ quan thuế để đóng thuế trước bạ, sau đó làm thủ tục đăng bộ tại Sở địa chính - nhà đất. Các cơ quan này căn cứ vào hợp đồng mua bán nhà đã có chứng nhận của cơ quan công chứng để tiếp nhận hồ sơ và giải quyết yêu cầu của đương sự (từ đó cũng có thể hiểu rộng ra là nếu hợp đồng mua bán nhà mà không có sự chứng nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan thuế và cơ quan đăng bộ có quyền từ chối giải quyết yêu cầu của đương sự). Do vậy, chúng tôi cho rằng giá trị thi hành đối với hợp đồng, giao dịch đã được công chứng không chỉ đối với các bên giao kết mà nó còn có hiệu lực thi hành đối với các chủ thể có liên quan.

Cũng tại Điều 14 có quy định: “trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật”.

Tuy nội dung trên không nói rõ là cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền giải quyết và giải quyết như thế nào, nhưng theo những quy định của pháp luật hiện hành thì trong trường hợp này đương sự phải khởi kiện ra Tòa án. Tòa án thụ lý vụ án, tiến hành điều tra, xác minh thu thập chứng cứ, hòa giải và xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Dĩ nhiên, các bên đương sự phải xuất trình chứng cứ để bảo vệ cho yêu cầu của mình. Rõ ràng, trong trường hợp này mặc dù hợp đồng, giao dịch đã có sự chứng nhận của cơ quan công chứng, nhưng khi có tranh chấp thì việc giải quyết tranh chấp cũng không khác gì với trường hợp hợp đồng, giao dịch chưa được công chứng. Điều đó có nghĩa là việc đương sự mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc (trong quá trình công chứng) cũng không bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các giao dịch của mình và cũng có nghĩa hoạt động công chứng chưa thật sự “góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN” như mục đích của hoạt động công chứng mà ngay trong Điều 1 Nghị định 75/CP đã khẳng định.

Việc xác định giá trị pháp lý của văn bản công chứng không thể không đề cập đến trường hợp văn bản công chứng vô hiệu. Như trên đã nêu, Điều 14 Nghị định 75/CP quy định: văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp:

1. Văn bản công chứng được thực hiện không đúng thẩm quyền;

2. Văn bản công chứng được thực hiện không đúng theo quy định pháp luật;

3. Văn bản công chứng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

Chúng tôi cho rằng, khi văn bản công chứng rơi vào trường hợp 1 hoặc trường hợp 2 sẽ là căn cứ pháp lý để Tòa án tuyên bố vô hiệu chứ không phải khi rơi vào các trường hợp nói trên thì sẽ làm cho văn bản công chứng mặc nhiên vô hiệu. Bởi ngoài Tòa án ra, không có cơ quan nào có quyền phán quyết văn bản công chứng vô hiệu. Ngay trong Nghị định 75/CP cũng chỉ quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính đối với việc từ chối công chứng, chứ không có quy định nào cho phép các cơ quan hành chính được giải quyết khiếu nại về việc văn bản công chứng có vi phạm pháp luật để từ đó tuyên nó vô hiệu. Trong khi đó, các văn bản pháp luật về tố tụng đều có quy định cho phép Tòa án trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án có quyền tuyên bố hủy bỏ văn bản của các cơ quan, tổ chức khác.

Từ những phân tích nói trên chúng tôi kiến nghị:

Một là, cần khẳng định các văn bản công chứng có giá trị bắt buộc thi hành đối với các chủ thể có liên quan.

Hai là, khi có tranh chấp đối với hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án phán quyết. Nếu có căn cứ cho rằng văn bản công chứng đó là hợp pháp thì Tòa án có quyền bắt buộc các chủ thể phải thi hành mà không cần giải quyết theo trình tự, thủ tục như các vụ tranh chấp hợp đồng, giao dịch chưa được công chứng. Nếu kiến nghị này được chấp nhận thì đương nhiên phải xem xét, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan đến tố tụng và thi hành án dân sự.

Ba là, chỉ có Tòa án mới có quyền phán quyết văn bản công chứng vô hiệu.

III. VỀ PHẠM VI VÀ THẨM QUYỀN CÔNG CHỨNG:

1. Về phạm vi công chứng:

Điều 3 Nghị định 75/CP quy định: hợp đồng, giao dịch được công chứng trong trường hợp sau đây:

1. Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng;

2. Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định không phải công chứng nhưng cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu.

Đây là quy định mới trong Nghị định 75/CP thể hiện sự thông thoáng và mở rộng phạm vi công chứng so với Nghị định 31/CP trước đây. Việc công chứng đối với hợp đồng, giao dịch trong trường hợp thứ hai, theo chúng tôi sẽ gặp phải những vướng mắc, lúng túng trong thực tiễn. Trong điều kiện hiện nay, pháp luật nước ta chưa hoàn thiện, chưa làm rõ việc gì phù hợp pháp luật, việc gì không phù hợp pháp luật, do vậy phạm vi công chứng như đã nói trên là quá rộng, nếu triển khai thực hiện sẽ rất phức tạp. Xin đơn cử trường hợp: giả sử trong thực tiễn đương sự yêu cầu Phòng Công chứng chứng nhận hợp đồng “mang bầu thuê” thì cơ quan công chứng sẽ giải quyết như thế nào? Nếu từ chối công chứng yêu cầu này thì Phòng Công chứng sẽ phải chứng minh rằng hợp đồng nói trên là trái pháp luật, cụ thể là trái với điều khoản nào của văn bản pháp luật nào? Cần nói thêm rằng, việc từ chối công chứng phải đúng pháp luật và nếu đương sự có yêu cầu thì cơ quan công chứng phải trả lời việc từ chối công chứng đó bằng văn bản. Nếu không đồng ý với việc từ chối công chứng nói trên thì đương sự có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện ra Tòa. Trong tương lai, chắc rằng sẽ xuất hiện những yêu cầu công chứng mà xét về mặt pháp lý rất khó phân định tính phù hợp hay không phù hợp pháp luật. Thật ra, ở các nước có nền công chứng phát triển đều quy định phạm vi công chứng rất rộng. Ở nước ta, việc mở rộng phạm vi công chứng để đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu của cá nhân, tổ chức là một xu hướng tất yếu. Song thiết nghĩ, việc mở rộng phạm vi công chứng phải có bước đi và lộ trình thích hợp. Chúng tôi cho rằng, trước mắt chỉ nên cho phép công chứng những việc mà pháp luật đã có dự liệu. Vấn đề đặt ra là các nhà làm luật cần làm tốt công tác dự liệu để tránh bó hẹp quá mức phạm vi công chứng, đến khi điều kiện cho phép thì sẽ mở rộng phạm vi công chứng như đã nói trên.

2. Về thẩm quyền công chứng:

Từ Điều 21 đến Điều 25 của Nghị định 75/CP đã quy định khá rõ thẩm quyền của cơ quan công chứng. Qua nghiên cứu và khảo sát thực tiễn chúng tôi nhận thấy một số vướng mắc sau đây:

Một là, theo Nghị định 75/CP thì phạm vi công chứng hợp đồng, giao dịch là rất rộng, không giới hạn, chỉ trừ những hợp đồng, giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Tuy nhiên, khi quy định thẩm quyền công chứng cho Phòng Công chứng và Ủy ban nhân dân cấp huyện, Nghị định 75/CP lại phân định hợp đồng, giao dịch thành hai loại: hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản và hợp đồng, giao dịch liên quan đến động sản. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật hiện hành thì ngoài hai loại hợp đồng, giao dịch nói trên còn có những hợp đồng, giao dịch không liên quan đến bất động sản hoặc động sản (Ví dụ: Những thỏa thuận dân sự về việc làm hoặc không làm một việc nào đó).

Vậy đối với loại hợp đồng, giao dịch này có thuộc thẩm quyền công chứng của Phòng Công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện không? Rõ ràng, theo quy định của Nghị định 75/CP thì thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch đã không bao quát hết các loại hợp đồng, giao dịch thuộc phạm vi công chứng. Do đó chúng tôi kiến nghị, khi quy định thẩm quyền công chứng nên chia hợp đồng, giao dịch làm hai loại: hợp đồng, giao dịch có liên quan đến bất động sản và hợp đồng, giao dịch còn lại để đảm bảo sự thống nhất giữa thẩm quyền công chứng với phạm vi công chứng.

Hai là, Nghị định 75/CP quy định đối với các hợp đồng, giao dịch liên quan đến động sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên phải do Phòng Công chứng chứng nhận, nếu dưới 50 triệu đồng thì UBND cấp huyện có quyền chứng nhận. Vấn đề gây tranh luận là 50 triệu đồng nói trên là trị giá của hợp đồng hay trị giá của động sản, đối tượng có liên quan trong hợp đồng đó?

Ví dụ: hợp đồng thuê ô tô, giá thuê là 12 triệu đồng/ năm, trong khi đó giá trị của ô tô là 100 triệu đồng. Vậy hợp đồng thuê tài sản này có thuộc thẩm quyền chứng nhận của UBND cấp huyện không? Một số ý kiến cho rằng phải lấy giá trị của động sản để xác định thẩm quyền công chứng. Vấn đề đặt ra là khi đó căn cứ vào đâu để xác định giá trị của động sản? Lúc này có thể xuất hiện ba khả năng:

- Khả năng thứ nhất là giá trị động sản do đương sự thỏa thuận;

- Khả năng thứ hai là giá trị động sản do cơ quan công chứng xác định;

- Khả năng thứ ba là giá trị động sản phải do Hội đồng định giá xác định.

Nếu chấp nhận khả năng thứ nhất hoặc khả năng thứ hai thì sẽ không đảm bảo tính chính xác và tính pháp lý, còn nếu chấp nhận khả năng thứ ba thì sẽ rất phức tạp, việc công chứng bị kéo dài, gây tốn kém cho đương sự. Chúng tôi nghĩ rằng, nên lấy giá trị của hợp đồng, giao dịch làm căn cứ phân định thẩm quyền công chứng vì đó là cách đơn giản nhất để giải quyết những vướng mắc không đáng có như đã nói trên.

Ba là, Nghị định 75/CP quy định cơ quan công chứng có thẩm quyền chứng nhận chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho các giao dịch của họ. Thực tiễn công chứng hiện nay đang gặp phải vướng mắc và lúng túng, đó là đối với loại giấy tờ nào thì được công chứng chữ ký, đối với loại giấy tờ nào thì không được công chứng chữ ký mà phải công chứng theo trình tự, thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch. Để giải quyết những vướng mắc này, chúng tôi cho rằng cần có Thông tư hướng dẫn thống nhất của Bộ Tư pháp.

Bốn là, Nghị định 75/CP không quy định cho UBND cấp xã thẩm quyền chứng nhận bản sao giấy tờ. Thực tiễn cho thấy nhu cầu công chứng bản sao rất lớn, chiếm 80 – 90% số việc công chứng(3). Nếu không phân cấp cho UBND cấp xã thẩm quyền công chứng bản sao sẽ dẫn đến quá tải ở Phòng Công chứng và UBND cấp huyện, đồng thời gây ra sự phiền hà rất lớn cho người dân trong việc đi lại, chờ đợi để chứng bản sao. Hiện nay, một số địa phương có hiện tượng “xé rào” để cho phép UBND cấp xã được công chứng bản sao Chứng minh nhân dân và Sổ hộ khẩu(4). Chúng tôi cho rằng công chứng bản sao là hành vi công chứng đơn giản, pháp luật cần cho phép UBND cấp xã được công chứng bản sao đối với một số loại giấy tờ nhất định để giải quyết những bất cập nói trên.

Năm là, Nghị định 75/CP tiếp tục giao cho UBND cấp xã thẩm quyền chứng nhận văn bản từ chối nhận di sản. Công chứng văn bản từ chối nhận di sản là loại việc khá phức tạp, đòi hỏi người thực hiện công chứng phải có nghiệp vụ công chứng và sự am hiểu pháp luật dân sự. Theo quy định của Bộ luật dân sự và Nghị định 75/CP thì việc công chứng văn bản từ chối nhận di sản chỉ được thực hiện khi đã chứng minh việc từ chối nhận di sản của người thừa kế không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của họ đối với người khác, mà việc chứng minh này sẽ rất khó khăn, phức tạp. Thiết nghĩ, với thực trạng đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã hiện nay còn nhiều bất cập, pháp luật nên giao thẩm quyền này cho UBND cấp huyện để tránh những sai sót có thể có trong thực tiễn công chứng.

Sáu là, Nghị định 75/CP quy định: “cơ quan, tổ chức đã cấp bản chính giấy tờ có quyền cấp bản sao giấy tờ đó”. Quy định nói trên có ý nghĩa thực tiễn rất lớn nhằm giảm thiểu sự phiền hà cho người dân, đồng thời giải phóng khối lượng bản sao hiện đã quá tải ở các cơ quan công chứng. Tuy nhiên, trong thực tiễn công chứng chúng tôi nhận thấy chỉ có cơ quan đăng ký hộ tịch là làm tốt quy định này. Đa số các cơ quan, tổ chức khác không triển khai cấp bản sao cho người dân (Ví dụ: cơ quan Công an hiện không cấp bản sao Chứng minh nhân dân và Sổ hộ khẩu). Một số cơ quan, tổ chức khác khi triển khai thực hiện việc cấp bản sao đã có sự nhầm lẫn giữa hành vi cấp bản sao với hành vi công chứng bản sao. Ví dụ: một số trường Đại học hiện nay đang công chứng bản sao (sao y bản chính) các văn bằng của sinh viên do trường cấp mà lẽ ra trong trường hợp này phải cấp bản sao các văn bằng nói trên mới đúng pháp luật.

Theo chúng tôi, công chứng bản sao và cấp bản sao là hai loại hành vi khác nhau ở những điểm sau:

- Về thẩm quyền: công chứng bản sao thuộc thẩm quyền của Phòng Công chứng, UBND cấp huyện và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; còn cấp bản sao thuộc thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đã cấp bản chính các giấy tờ đó.

- Về hình thức của bản sao: bản sao công chứng rất đa dạng, có thể là bản chụp, bản in, bản đánh máy, bản đánh vi tính nhưng phải có nội dung đầy đủ, chính xác như bản chính, bản sao này do đương sự tạo lập; còn bản sao được cấp về hình thức giống hoàn toàn với bản chính và biểu mẫu của bản sao đó phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát hành thống nhất trong cả nước.

- Về trình tự, thủ tục: cơ quan công chứng bản sao chỉ đối chiếu bản sao với bản chính do đương sự xuất trình; còn việc cấp bản sao thì cơ quan, tổ chức chủ yếu chỉ dựa vào sổ gốc mà mình đang lưu giữ.

- Về cách thức thực hiện yêu cầu của đương sự: đương sự yêu cầu công chứng bản sao phải trực tiếp đến cơ quan công chứng để thực hiện yêu cầu của mình; còn việc cấp bản sao, đương sự có thể trực tiếp đến cơ quan, tổ chức đang lưu giữ sổ gốc để thực hiện yêu cầu hoặc có thể gởi yêu cầu cấp bản sao qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức đã cấp bản chính.

Qua nội dung phân tích trên, chúng tôi kiến nghị trong các văn bản pháp luật điều chỉnh công chứng cần phân biệt hoạt động cấp bản sao và hoạt động công chứng bản sao, đồng thời các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần quan tâm chỉ đạo để các cơ quan, tổ chức triển khai thực hiện tốt việc cấp bản sao cho những đương sự có yêu cầu.

Lĩnh vực công chứng vốn dĩ là lĩnh vực chuyên môn phức tạp, do vậy chắc rằng những ý kiến chủ quan của chúng tôi nói trên chỉ là những ý kiến bước đầu. Chúng tôi hy vọng những ai quan tâm đến lĩnh vực này cùng tham gia trao đổi thêm để góp phần hoàn thiện pháp luật công chứng ở nước ta.·

(1) Văn bản công chứng đầu tiên được tạo lập ở Việt Nam là vào năm 1886 (văn bản này hiện nay còn đang được lưu giữ tại Phòng Công chứng số 1 TP. HCM).

(2) Xem Tìm hiểu về phạm vi công chứng và chứng thực trong pháp luật hiện hành, TS. Đặng Văn Khanh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2001.

(3) Xem báo cáo tổng kết hoạt động công chứng của Phòng Công chứng số 1 TP. HCM và Phòng Công chứng số 1 TP. Hà Nội năm 2000.

(4) Xem Chỉ thị 03/CT-UB ngày 3 tháng 4 năm 2001 của UBND TP. Hồ Chí Minh


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Ngày cập nhật (Thứ năm, 18 12 2008 16:15)

 
Chế độ hiển thị tốt nhất: 1024 x 800  với MoZilla Firefox